Thứ Hai, 21 tháng 12, 2009

"..Nhưng Scarlett, có bao giờ cô nghĩ rằng ngay cả mối tình bất diệt nhất cũng có thể lụi tàn?

[...]

Tình yêu của tôi lụi tàn rồi.

[...]

Đã có bao giờ cô nghĩ rằng tôi yêu cô đến hết mức một người đàn ông có thể yêu một người đàn bà? Yêu từ bao năm trước khi tôi cưới được cô. Trong thời gian chiến tranh, tôi muốn đi thật xa để cố quên cô, song không được, và bao giờ tôi cũng phải quay lại. Sau chiến tranh, tôi dấn thân vào vòng tù tội chỉ để trở lại gặp cô. Tôi yêu cô đến mức tưởng có thể giết chết Frank Kennedy nếu anh ta không chết.
Tôi yêu cô nhưng không thể để cô biết. Cô thật tàn nhẫn đối với những người yêu cô, Scarlett. Cô nắm lấy tình yêu của họ vung lên đầu họ như một cây roi.

[...]

Tôi biết lúc chúng ta lấy nhau, cô không yêu tôi. [...] Xin cô cứ cười, nếu cô thích, nhưng tôi đã muốn săn sóc, chiều chuộng cô, cho cô tất cả những gì cô cần. Cô đã phải vật lộn gay go biết mấy, Scarlett. Không ai biết rõ hơn tôi những gì cô đã phải trải qua và tôi đã muốn cô thôi không phải đấu tranh nữa, để tôi đấu tranh thay cho cô. Tôi đã muốn cô được vui chơi như một đứa trẻ - vì cô là một đứa trẻ, một đứa trẻ vừa can đảm, vừa khiếp sợ, vừa bướng bỉnh. Tôi nghĩ, ngay cả bây giờ, cô vẫn còn là một đứa trẻ. Chỉ có một đứa trẻ mới có thể ương ngạnh và vô tình đến thế.

[...]

Giá cô để tôi thoải mái, tôi có thể yêu cô một cách dịu dàng và âu yếm như chưa một người đàn ông nào yêu một người đàn bà đến thế. Nhưng tôi không thể để cô biết vì cô sẽ nghĩ là tôi yếu đuối và tìm cách dùng tình yêu của tôi để trị tôi..

[...]

Thế rồi cái đêm tôi bế cô lên gác.. tôi đã tưởng.. tôi đã hi vọng.. tôi đã tràn đầy hi vọng đến nỗi tôi sợ phải giáp mặt cô sáng hôm sau. Phải, tôi sợ mình đã lầm và thật ra cô chẳng yêu tôi. Tôi sợ cô cười vào mũi tôi, sợ đến nỗi phải bỏ đi và uống cho thật say. Và khi trở về, tôi run từ trong ruột và nếu cô nhân nhượng đi một bước trước, tỏ một dấu hiệu gì đó, thì hẳn tôi đã quỳ xuống hôn chân cô rồi.

[...]

Ồ, thế đấy. Hình như chúng mình đã hiểu lầm nhau, phải không? Nhưng bây giờ cái đó chẳng quan trọng nữa. Tôi kể với cô chỉ cốt để cô khỏi thắc mắc về chuyện đó. Khi cô ốm - đó là tại tôi gây ra - tôi cứ đứng ngoài cửa buồng, hi vọng cô gọi tôi, nhưng cô không gọi. Lúc đó, tôi liền hiểu ra rằng mình ngu biết bao, rằng thế là hết.

[...]

Nhưng còn có Bonnie và tôi thấy suy cho cùng chưa phải đã hết tất cả. Tôi thích tưởng tượng Bonnie là cô lại biến thành một bé gái trước khi chiến tranh và nghèo đói ném cô vào bao thử thách. Nó mới giống cô làm sao, bướng bỉnh, dũng cảm, tươi vui và đầy phấn hứng. Và tôi có thể cưng nó, nuông chiều nó.. đúng như tôi muốn cưng cô vậy. Nhưng nó không như cô.. nó yêu tôi. Thật là một ân phước khi tôi có thể đem mối tình yêu mà cô không thèm dồn vào cho nó. Khi nó đi, nó đã mang theo tất cả.

[...]

Scarlett yêu dấu, cô thật trẻ con. Cô tưởng cứ nói "Tôi lấy làm tiếc" là có thể sửa chứa tất cả những lầm lỗi, những xúc phạm trong quá khứ, có thể tẩy hết mọi nọc độc khỏi những vết thương cũ.. Cầm lấy mùi soa của tôi này, Scarlett. Chưa bao giờ, trong một cơn khủng hoảng của đời cô, tôi thấy cô cần một chiếc mùi soa.

[...]

Scarlett, tôi không phải loại người kiên nhẫn nhặt những mảnh vỡ, đem gắn lại với nhau rồi lại tự nhủ rằng một vật chắp vá cũng coi như mới. Cái gì đã vỡ là đã vỡ.. Và tôi thà nhớ lại khi nó tốt đẹp nhất, còn hơn là chắp vá lấy được để rồi suốt đời cứ phải thấy những chỗ vỡ. Có lẽ nếu tôi còn trẻ hơn.. Nhưng tôi đã quá tuổi để tin vào những chuyện lãng mạn như làm lại cuộc đời. [...] Tôi ước sao có thể quan tâm đến những việc cô làm hoặc những nơi cô đến, nhưng không thể được.

[...]

Cô bé thân mến ạ, tôi mặc xác."

[Rhett Butler, tiểu thuyết Cuốn theo chiều gió của Margaret Mitchell, bản dịch của Dương Tường]

_____________

thật đau lòng

Thứ Năm, 17 tháng 12, 2009

Rhett Butler, in "Gone with the wind" written by Margaret Mitchell:

"But, Scarlett, did it ever occur to you that even the most deathless love could wear out?

Mine wore out."

__________________________

aaaaaaaaaaaa I WANT A HAPPY ENDING, NOT THATTTTTTTT :((((((((((((((((((((

it reminds me of what is written in an icon:

"No matter how much we like a person, if we are uncertain of our position, there will be a point when the only certain is to give up."
René Descartes (1596-1650), French philosopher:

"Those who so become accustomed to walk in darkness weaken their eyesight so much that afterwards they cannot bear the light of day."

Thứ Năm, 10 tháng 12, 2009

Chiếc vòng kỳ diệu

Chiếc vòng kỳ diệu

Khuyết danh

Một ngày nọ, vua Salomon bỗng muốn làm bẽ mặt Benaiah, một cận thần thân tín của mình. Vua bèn nói với ông :”Benaiah này, ta muốn ông mang về cho ta một chiếc vòng để đeo trong ngày lễ và ta cho ông sáu tháng để tìm chiếc vòng đó”.

Benaiah trả lời :” Nếu có một thứ gì đó tồn tại trên đời này thưa Đức Vua, tôi sẽ tìm thấy nó và mang về cho Ngài, nhưng chắc là chiếc vòng ấy phải có gì đặc biệt?”

Nhà vua đáp :”Nó có những sức mạnh kỳ diệu. Nếu kẻ nào đang vui nhìn vào nó sẽ thấy buồn, và nếu ai đang buồn nhìn vào nó sẽ thấy vui”. Vua Salomon biết rằng sẽ không đời nào có một chiếc vòng như thế tồn tại trên thế gian này, nhưng ông muốn cho người cận thần của mình nếm một chút bẽ bàng.

Mùa xuân trôi qua, mùa hạ đến nhưng Benaiah vẫn chưa có một ý tưởng nào để tìm ra một chiếc vòng như thế.

Vào đêm trước ngày lễ, ông quyết định lang thang đến một trong những nơi nghèo nhất của Jerusalem. Ông đi ngang qua một người bán hàng rong đang bày những món hàng trên một tấm bạt tồi tàn. Benaiah dừng chân lại hỏi :”Có bao giờ ông nghe nói về một chiếc vòng kỳ diệu làm cho người hạnh phúc đeo nó quên đi niềm vui sướng và người đau khổ đeo nó quên đi nỗi buồn không?”. Người bán hàng lấy từ tấm bạt lên một chiếc vòng giản dị có khắc một dòng chữ. Khi Benaiah đọc dòng chữ trên chiếc vòng đó khuôn mặt ông rạng ngời một nụ cười.

Đêm đó tòan thành phố hân hoan, tưng bừng đón mùa lễ hội. “Nào, ông bạn của ta – Vua Salomon hỏi – ông đã tìm thấy điều ta yêu cầu chưa?”. Tất cả cận thần có mặt đều cười lớn và cả chính vua Salomon cũng cừơi.

Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Benaiah đưa chiếc vòng ra và nói :”Nó đây, thưa Đức Vua”. Khi vua Salomon đọc dòng chữ, nụ cười biến mất trên khuôn mặt vua. Trên chiếc vòng đó có khắc dòng chữ: ”ĐIỀU ĐÓ RỒI CŨNG SẼ QUA ĐI”.

Vào chính giây phút ấy, vua Salomon nhận ra rằng tất thảy những sự khôn ngoan, vương giả và quyền uy của ông đều là phù du, bởi vì một ngày nào đó ông cũng chỉ là cát bụi….

Nguồn gốc của 7 ngày trong tuần.

Nguồn gốc của 7 ngày trong tuần.

nguồn: http://my.opera.com/dieugido253/blog/show.dml/3579521

Tại sao tuần lễ lại có 7 ngày ? Vì sao số 7 lại được coi là con số "màu nhiệm"? Bởi vì nó được xuất phát từ quan niệm của người châu Âu và liên quan đến hiểu biết của các nhà khoa học thời ấy về vũ trụ.

Theo họ, Trái Đất là trung tâm của vũ trụ, có 7 hành tinh quay xung quanh nó là Mặt Trời, Mặt Trăng và các vì sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ và ngày ấy con người cũng mới biết đến 7 nguyên tố kim loại là vàng, bạc, đồng, sắt, chì, kẽm và thủy ngân. Họ coi 7 nguyên tố đó tương ứng với 7 hành tinh trong hệ mặt Trời, nên đã lấy mỗi ngày tượng trưng cho một hành tinh mà theo thế giới quan của họ mỗi hành tinh là một vị thần và được đặc trưng bởi nguyên tố kim loại với những tính chất nhất định.

+ Ngày đầu tiên trong tuần lễ được coi là ngày của vị thần thân thiết nhất, quan trọng nhất là Mặt Trời và ứng với thứ kim loại quý nhất là VÀNG. Đó là ngày Chủ Nhật. Tiếng Anh gọi là Sunday, tiếng Đức là Sonntag có nghĩa là ngày Mặt Trời.

+ Ngày thứ Hai được giành cho vị thần canh giấc ngủ đêm đêm của con người, đó là Mặt Trăng và tương ứng với nó là nguyên tố kim loại BẠC, thứ kim loại quý thứ hai sau vàng. Tiếng Anh là Monday, tiếng Đức là Montag có nghĩa là ngày Mặt Trăng.

+ Ngày thứ Ba được ứng với sao Hỏa và nguyên tố tương ứng là SẮT. Bởi sao Hỏa được coi là thần của chiến tranh mà vũ khí, áo giáp đều làm bằng sắt. Ngày nay người Pháp gọi là Mardy, còn người Tây Ban Nha gọi là Martes. Tiếng Anh là Tuesday, đây được coi là ngày của những chiến binh, của nam giới.

+ Ngày thứ Tư tiếng Anh là Wednesday, tiếng Pháp gọi là Mercredi, tiếng Tây Ban Nha là Mercoles có nghĩa là ngày của sao Thủy. Sao Thủy được coi là vị thần của thương mại. Theo hình dung của người xưa, đây là vị thần thường xuyên phải đi nhiều nên nguyên tố tương ứng là THỦY NGÂN. Thứ kim loại nặng, dễ di động.

+ Ngày thứ Năm người Pháp gọi là Jeudi, người Tây Ban Nha gọi là Juebes là ngày dành cho chúa tể của các vị thần linh, ứng với đó là sao Mộc và kim loại đi kèm là KẼM. Bởi kẽm có tính chất không gỉ nên nó đặc trưng cho sức mạnh của khôn cùng sao Mộc - vị thần sấm chớp. Có lẽ vì vậy mà ngày thứ Năm người Đức gọi là Donnerstag, nghĩa là ngày sấm chớp. Còn trong tiếng Anh nó là Thursday.

+ Ngày thứ Sáu người Pháp gọi là Vendredi, người Tây Ban Nha gọi là Biernes có nghĩa là ngày của sao Kim. Hành tinh này được coi là tượng trưng cho nữ thần của tình yêu. Ứng với sao Kim là nguyên tố kim loại ĐỒNG, một kim loại mềm dẻo, phản xạ những tia sáng lấp lánh. Các dân tộc ở Bắc Âu gọi nữ thần tình yêu là Fray, vì thế người Đức gọi thứ Sáu là Freitag và người Anh gọi là Friday. Đây được coi là ngày của nữ giới.

+ Còn ngày cuối cùng trong tuần được coi là của sao Thổ, vị thần mà theo quan niệm của người xưa là gây ra các nỗi bất hạnh, đau khổ về mặt tinh thần cho con người. Nên ứng với nó là nguyên tố CHÌ, một kim loại độc hại. Trong các ngôn ngữ ở châu Âu hiện nay chỉ còn tiếng Anh giữ nguyên được gốc tên gọi của sao Thổ (Saturn) để chỉ ngày thứ Bảy - Saturday.

Trên đây là khảo cứu nhỏ về nguồn gốc của các ngày trong tuần mà nguyên gốc tên gọi của nó còn giữ được trong ngôn ngữ của một số quốc gia châu Âu, giúp chúng ta hiểu thêm về cách đặt tên ngày của người châu Âu cổ.

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2009

Chiều mưa biên giới

Chiều mưa biên giới

- Nguyễn Văn Đông -

Chiều mưa biên giới anh đi về đâu?
Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu
Kìa rừng chiều âm u rét mướt
Chờ người về vui trong giá buốt
Người về bơ vơ

Tình anh theo đám mây trôi chiều hoang
Trăng còn khuyết mấy hoa không tàn

Cờ về chiều tung bay phất phới
Gợi lòng này thương thương nhớ nhớ
Bầu trời xanh lơ

Đêm đêm chiếc bóng bên trời
Vầng trăng xẻ đôi
Vẫn in hình bóng một người
Xa xôi cánh chim tung trời
Một vùng mây nước
Cho lòng ai thương nhớ ai

Về đâu anh hỡi mưa rơi chiều nay
Lưng trời nhớ sắc mây pha hồng
Đường rừng chiều cô đơn chiếc bóng
Người tìm về trong hơi áo ấm
Gợi niềm xa xăm

Người đi khu chiến thương người hậu phương
Thương màu áo gởi ra sa trường
Lòng trần còn tơ vương khanh tướng
Thì đường trần mưa bay gió cuốn
Còn nhiều anh ơi

Lòng trần còn tơ vương khanh tướng
Thì đường trần mưa bay gió cuốn
Còn nhiều anh ơi
"Mộng rơi giữa thềm hoa
Mộng sao vẫn cay đắng xót xa
Rượu cay có mình ta

Uống cho cạn nỗi đau muôn đời
Mộng rơi giữa đời ta
Mộng như những cánh én thướt tha
Chiều nay có mình ta với cơn sầu"


[Khúc Lan]

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2009

Photobucket
Ảnh: Kền kền chờ đợi - Kevin Carter (1994)


0. Hand: Được trao giải Pulitzer 1994, bức ảnh ghi lại khoảnh khắc một em bé ở Sudan sắp chết đói đang cố lết về phía trại phân phát lương thực của Liên Hợp Quốc cách đó khoảng một km. Cách đó không xa, một con kền kền đang chờ em bé chết để ăn thịt. Bức ảnh khiến cả thế giới bàng hoàng.

Không ai biết điều gì xảy ra với em bé sau đó. Cả nhiếp ảnh gia cũng không biết bởi anh rời đi ngay sau khi chụp ảnh. Nhiều người lên án sự lạnh lùng sau ống kính của tác giả. Ba tháng sau khi chụp bức ảnh này, nhà nhiếp ảnh Kevin Carter đã tự tử vì trầm cảm.



1. Giàng: Mình nhớ tranh cãi về hành động của Kevin đã là một đề tài lớn trên nhiều phương tiện, nhiều diễn đàn. Bởi thay vì chạy đến cứu đứa bé, Kevin dừng lại và chờ một khoảnh khắc phù hợp nhất để nháy pô ảnh, mà ông biết sẽ tác động đến hàng triệu người khác trên thế giới.

Việc anh không cứu đứa bé trước khi chụp ảnh, để không phá bỏ không gian (bao gồm con chim, sự yếu đuối của bé, xác xơ của đồng cỏ...vv) là có thể hiểu được. Điều khó hiểu thật sự là tại sao Kevin lại rời đi ngay sau khi chụp bức ảnh, và dằn vặt gì khiến ông tự tử ba tháng sau đó?


2. Gaup: Đây là một thứ truyền khẩu dai dẳng nhưng không chính xác. Có thể dễ dàng kiểm tra là chú này chụp ảnh tháng 3/93 và tự sát tháng 7/94 - ba tháng sau khi đoạt giải Pulitzer cho bức ảnh này thì đúng.

Thêm nữa, nhiều người được bảo và thích nghĩ rằng chú này tự sát vì day dứt về cách chụp bức ảnh này. Link wikipedia

http://en.wikipedia.org/wiki/Kevin_Carter

cho thấy cái suicide note viết:

"I am depressed ... without phone ... money for rent ... money for child support ... money for debts ... money!!! ... I am haunted by the vivid memories of killings and corpses and anger and pain ... of starving or wounded children, of trigger-happy madmen, often police, of killer executioners...I have gone to join Ken if I am that lucky."[4]

"Tớ trầm cảm...không có điện thoại...không có tiền trả tiền nhà....tiền trả tiền nuôi con....tiền trả nợ...tiền nói chung!!!....Tớ bị ám ảnh bởi những hồi tưởng rõ ràng về giết chóc và xác chết và sự tức giận và đau đớn....về trẻ em bị thương bị đói....bởi những kẻ điên dễ bị kích động, thường là cảnh sát, về những tên đao phủ sát nhân...tôi đã đi gặp Ken nếu tôi may mắn thế."

Như thế bức ảnh trên nếu phải thì chỉ là một phần nguyên nhân chú ấy tự sát.

Xem thêm link wiki để thấy đứa bé không nhất thiết là bị ở trong tình trạng gần chết như bức ảnh và truyền thông muốn chúng ta nghĩ.


3. thansammic21: Theo thông tin các anh ở thông tấn xã zue nan, thằng bé sống tiếp nhưng chỉ được khoảng một tuần!

Lúc đó nó thực sự đói gần chết, thằng pv không đi tác nghiệp một mình, ai đó đi cùng đã cứu cháu bé, nhưng rồi nó chết, không phải chú pv tự kể lại hoàn cảnh chụp được bức ảnh mà chính lời đồn đại bắt chú phải tự thú.

Em các bác nghĩ sau khi chụp được shot đó, chú pv bắt đầu nghĩ ngay đến Pulitzer, lâng lâng như say rượu đé.o hơi đâu mà thương hại. Cảm giác hối lỗi chắc chỉ có sau khi đạt giải và bị dư luận lên tiếng, cái này gần với sự cay đắng hơn.


4. Gaup: Mic đọc post vừa rồi của anh có vẻ không hiểu, mic cũng không đọc cái link wiki nữa - anh đoán có lẽ tiếng Anh chuối. Vậy để anh tóm tắt lại.

(1) Đứa bé đó theo lời chú Kevin và New York Times trích lại thì là đang lết về phía trạm phát đồ ăn cách đó khoảng 1km và đang dừng lại nghỉ. Con kền kền kia theo lời các chú đó thì đang chờ đứa bé chết để ăn thịt. Sau khi ảnh được đăng, do có nhiều người hỏi han là số phận đứa bé kia ra sao thì New York Times trả lời là đứa bé đó có đủ sức để đi tiếp về trạm kia và không có thông tin nào khác về số phận của nó.

Mấy bạn thông tấn xã nói là sống thêm được một tuần là ba hoa bốc phét. Không ai biết gì về việc này cả.

(2) Bức ảnh không nhất thiết là bức tranh toàn cảnh. Có thể nó đã là một sự trích dẫn không đầy đủ khỏi văn cảnh/hoàn cảnh. Nói cách khác, khung hình cho người xem cảm giác chỉ có con kền kền, đứa bé, và nhiếp ảnh gia. Trên thực tế có thể có nhiều đứa bé khác, nhiều người khác nữa, kể cả cha mẹ đứa bé đứng xung quanh - và là một khung cảnh tương đối bình thường dẫn tới việc nhiếp ảnh gia tiếp cứu đứa trẻ là không cần thiết. Bức ảnh đã được bóc tách ra khỏi hoàn cảnh của nó theo kiểu tôi cảm thấy nhục khi cầm hộ chiếu Việt Nam và vì thế nhiều sự trách móc đổ dồn trách nhiệm vào người chụp ảnh. Đây là cái giá nhiếp ảnh gia phải trả để duy trì tính độc đáo của bức ảnh.

Trong link có nói tới một nhiếp ảnh gia khác đi cùng với Carter là người đã kể lại là bọn trẻ con bị bố mẹ bỏ xuống đất một vài phút trong khi cha mẹ lấy thực phẩm từ máy bay của UN mà Carter và người kia đã đi cùng tới. Nếu việc này đúng, đứa trẻ không bò đi đâu, và kền kền cũng không chờ để ăn thịt nó, hoàn cảnh thật của đứa bé bi đát nhưng là bình thường trong hoàn cảnh chung ở chỗ đó. Chỉ có cái tính kịch của khung hình tạo dựng kia ám ảnh chúng ta.


5. aosta: Nói chung vẫn chỉ là suy đoán. Tuy nhiên, tớ không nghĩ một người làm nghệ thuật, chụp được một tấm ảnh như thế lại là người vô tâm ngay sau đó.

"Nói nữa để làm gì, đã không còn lại gì" @nhạc chẻ


6. thansammic21: @Gấu: em chưa đọc cái link anh đưa, quan điểm của anh Gấu là đúng nhưng theo em nên đặt tư cách con người lên trên tư cách nhà báo. Trong mọi trường hợp, hành động thản nhiên nhìn một thằng trẻ con lê lết để cho vừa khung ảnh của chú phóng viên là bất nhân.


7. Gaup: Chưa chắc đâu Mic. Nếu như xung quanh có không phải 1 mà là 200 trẻ đều lê lết như thế, và không chỉ 1 mà là 1000 con chim như thế, và Mic là phóng viên ảnh được liên hiệp quốc mời đi thực tế ở Sudan chỉ có 30' để chụp ảnh ở điểm phát lương thực đấy thì liệu Mic sẽ chụp ảnh hay là đi ra bế (đứa nào trong số) 200 trẻ đấy và rồi đi đâu, làm gì?

Bức ảnh này có giá trị ở cái thông điệp sự bất hạnh của con người, sự cô độc của con người đối diện với nguy cơ, rủi ro, đau khổ. Chỉ cần lùi lại hai bước, zoom out một chút mà thấy thêm 10 người cùng cảnh ngộ như thế là sức thuyết phục của thông điệp sẽ giảm đi nhiều. Khi nhìn ảnh chỉ có một đứa trẻ, người xem thấy mình như phải có trách nhiệm nâng đỡ đứa bé, cái thiện tâm của mình bị kích thích cần phải nói, phải đưa tay ra. Nếu như thấy lố nhố mấy chục đứa trẻ và cha mẹ chúng nó đang giằng giật thực phẩm thì tự nhiên cái cảm giác trách nhiệm cá nhân đấy biến mất, vấn đề bỗng trở nên ở ngoài tầm với của người xem, nguyên nhân của nó bỗng trở nên phức tạp hơn nhiều khả năng giải quyết của mình và vì thế lúc đó mình không còn muốn dính dáng gắn bó gì cho nó nặng đầu.


8. em tên bông: Post này của Gấu là một enlightenment cho em bông, làm bông thấy chơi tnxm mang lại lợi lộc cho mình.


Những tranh luận trên được copy từ diễn đàn tnxm.net

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2009

Liệu thế giới này có còn đáng được cứu rỗi nữa hay không?

Movie Review: The Dark knight

Liệu thế giới này có còn đáng được cứu rỗi nữa hay không?
Thổ Phỉ's blog

Photobucket


“Người ta bảo, phương Tây được xây nên trên các truyền thuyết. Và truyền thuyết là cách để chúng ta có thể hiểu được những gì vĩ đại hơn bản thân mình. Những sức mạnh định hình số phận, những sự kiện thách thức các cách giải thích thông thường, những con người mà số phận của họ vươn tới trời xanh hoặc rơi xuống mặt đất. Các truyền thuyết đã được sinh ra như thế đó…” (The Ghost Rider)

Hai thế kỷ trước đây, khi “phương Đông là phương Đông và phương Tây là phương Tây”, Keepling không phải là nhà văn duy nhất đi tìm cảm hứng sáng tạo của mình từ “phương Đông bí hiểm”. Trong suốt hơn một thế kỷ, hành trình “tìm về với phương Đông” là cái cách phương Tây đã làm để nhìn thế giới của mình bằng một con mắt khác. Những cố gắng của họ thường được tiếp nhận bởi sự im lặng kiêu kỳ, hoặc tệ hơn, sự nhạo báng ít dấu diếm của phương Đông : làm sao phương Tây có thể hiểu được sự tinh tế và chiều sâu trong triết học, văn hóa và lịch sử của chúng ta?

Một trong những sai lầm lớn nhất của phương Đông là ở chỗ, suốt gần hai thế kỷ qua, chúng ta lầm tưởng rằng, sáng tạo ra các truyền thuyết là đặc quyền của tiền nhân, rằng các anh hùng ca, các câu chuyện cổ tích, các truyền thuyết đã không còn chỗ đứng trong xã hội hiện đại nữa. Suốt thời gian ấy, phương Tây đã chứng tỏ rằng, ngay cả trong những năm tháng đen tối nhất, khi cả thế giới chớm đặt một chân vào một cuộc đại chiến đẫm máu nhất trong lịch sử, hay dưới cột khói bốc lên từ đám cháy của tòa Tháp đôi, với một thế kỷ mới bắt đầu bằng chủ nghĩa khủng bố, với sự ngự trị của bất an, đói kém và tội ác diệt chủng toàn cầu, họ vẫn không ngừng sáng tạo ra các truyền thuyết để tìm hiểu những gì “vĩ đại hơn bản thân mình”, hoặc có lẽ, để nuôi dưỡng niềm tin vào sự tồn tại của những điều “vĩ đại hơn bản thân mình”. Thế giới càng thu nhỏ, công nghệ càng phát triển thì con người càng cô đơn và càng có nhu cầu kiếm tìm những gì lớn lao hơn cuộc sống thường nhật của họ. Điều đó giải thích cho cơn phấn khích của công chúng khi khám phá lại Chúa tể những chiếc nhẫn, thành công vang dội của Harry Porter, sức hấp dẫn toàn cầu trong mỗi một phần của Ma trận, hay gần đây nhất, sự đồng thuận hiếm hoi giữa các khán giả cuồng nhiệt và những nhà phê bình khó tính trong việc đánh giá thành công của Hiệp sĩ của Bóng đêm, một trong những bộ phim hay nhất và giầu tính triết lý nhất của Hollywood trong mười năm trở lại đây.

Sự “tiến hóa” thần kỳ nào đã khiến cho một khuôn mặt anh hùng nhàm chán như Người Dơi lại trở thành biểu tượng của một tác phẩm điện ảnh xuất sắc-”đen tối và dài như bóng đêm”, như cái cách mà tờ New York Times ca ngợi? Vì sao bộ phim, thay vì một sản phẩm thương mại và giải trí thuần túy, lại trở thành một truyền thuyết hiện đại hấp dẫn, đầy tính ẩn dụ, trăn trở về những vấn đề lớn lao của thời đại chúng ta? Christopher Nolan đã làm cách nào để đem người hùng bằng nhựa, vốn đang mòn mỏi trong góc khuất của các tiệm đồ chơi hay cửa hiệu quần áo trẻ em cùng với Siêu Nhân, Người Nhện hay nửa tá anh hùng khác trong Justice League, trở lại màn ảnh lớn như một nhân vật bi kịch của thời hiện đại?

Có lẽ bởi những tác phẩm nghệ thuật lớn như Hiệp sĩ của Bóng đêm luôn luôn đặt ra những câu hỏi, những cách nhìn có thể thay đổi (dẫu chỉ trong gần hai tiếng đồng hồ) toàn bộ những tín điều mà chúng ta đã chấp nhận trong thế giới tẻ nhạt thường nhật này. Nếu như trong Ma Trận, anh em nhà Wachowski thách thức cách nhìn của chúng ta đối với hiện thực, với “sự tồn tại” trừu tượng của thực thể, thì trong Hiệp sỹ của Bóng Đêm, người hùng của trẻ em đã thực sự trưởng thành, trở thành một Hamlet của thế kỷ XXI khi anh phải đối mặt với một câu hỏi nhức nhối.

Liệu thế giới này có còn đáng được cứu rỗi nữa hay không?

Không! Nhân vật Joker (Heath Ledger đóng), một trong những bộ mặt phức tạp nhất của cái Ác khẳng định! Thế giới này, mà tượng trưng cho nó là thành phố Gotham, mọt rỗng bởi thói đạo đức giả, tham lam và bạc bẽo. Những con người vô cảm, tìm cách che dấu cuộc sống bất lực vô mục đích bằng cách “lập ra các kế hoạch” cho cuộc sống của họ, và lần theo các kế hoạch của cuộc đời như gã mù bám theo cây gậy chỉ đường. Nhưng chỉ cần một cú huých, chỉ cần một mắt xích trong kế hoạch của họ bị đổ vỡ, khi không có chỗ dựa, khi “mọi sự trở nên xấu đi”, con người sẽ trở về với cái ác nguyên thủy của nó. Joker say mê sự hỗn loạn vô chính phủ, thích những cú “huých nhẹ” phá vỡ những mắt xích trong các kế hoạch của con người, đẩy con người đến chỗ tận cùng của cuộc sống, giữa ranh giới của Thiện và Ác để chứng minh bản chất “hướng ác” của loài người. Joker luôn sử dụng dao, để vào giây phút cuối, cảm nhận tất cả sự sợ hãi, hèn nhát, nhu nhược, bất lực của nạn nhân, cảm thấy mình đọc được nhiều hơn bất cứ ai về bản chất của con người trong giờ phút ấy. Khinh bỉ cái Ác truyền thống, cái Ác “có kế hoạch”, có “tổ chức”, Joker muốn chứng minh cho xã hội thấy hắn có thể làm được gì chỉ với những thứ rẻ tiền như “vài viên đạn, một chút thuốc nổ và một ít xăng”-hắn không chỉ phá hủy vài ngôi nhà, vài chiếc xe hay một bệnh viện mà còn phá hủy tận gốc nền tảng đạo đức của xã hội này, tạo nên một sự hỗn loạn về giá trị sống. Ledger có một vai diễn xuất sắc cho một kẻ “không có tên, không có lý lịch, không có hồ sơ lưu trữ, không dấu vân tay, không có bất cứ một cái gì cả “-ngoài khuôn mặt của Gwynplaine, với hai mép bị rạch tạo cho hắn một khuôn mặt cười quái dị và những cú liếm môi nôn nóng. Với người này, khuôn mặt của hắn là câu chuyện của một cậu bé có số phận bi thảm, bị chính người bố nghiện ngập rạch mặt ra sau khi giết mẹ, bởi vì “sao con cứ nghiêm trọng quá đi”. Với một người khác, khuôn mặt hắn kể lại câu chuyện một người chồng nghèo, sẵn sàng rạch mặt mình để người vợ bị bệnh đỡ mặc cảm, nhưng vì quá ghê sợ nên chính người vợ lại bỏ ra đi. Cũng giống như Người Đàn Ông Có Bộ Mặt Cười của Hugo, bộ mặt cười của Joker là cái cười gằn bi thảm được khắc lên trên một khuôn-mặt-khác của xã hội, muôn hình vạn trạng, với hàng triệu câu chuyện đằng sau nó, tất cả đều hét lên “xã hội này không đáng được cứu rỗi!” Và liệu chúng ta có đủ cơ sở để phản bác hắn, liệu chúng ta còn có thể gọi hắn là kẻ Ác khi bộ mặt của hắn vẫn cười nhạo chúng ta với triết lý tàn nhẫn, nhưng e rằng không phải là không có lý đó?

Không! Harvey Dent (Aaron Eckhart), viên ủy viên công tố trẻ, “Hiệp sĩ trắng”, người mà Người Dơi hi vọng sẽ thế chỗ anh ta trở thành người bảo trợ cho Gotham cũng khẳng định. Niềm tin vào sức mạnh của cái Thiện, vào sự chính trực của mình, tin tưởng ở cái cách anh ta tự quyết định vận mạng của mình chứ không ai khác (hãy xem anh ta tung đồng xu có cùng một mặt)…cứ lần lượt bị Joker bẻ gẫy, khi hắn lần lượt chứng minh cho anh ta, sự tráo trở, bội phản, ích kỷ của Gotham và xã hội của nó không phải do hắn tạo ra- nó chính là bản chất của xã hội này. Cuộc chiến mà Joker kêu gọi giới tội phạm của Gotham chống lại Người Dơi và Harvey Dent không nhằm tiêu diệt người hùng của thành phố, nó là sự bắt đầu tất yếu của cái Ác trước sự kết thúc của cái Thiện, khi cái Thiện nắm quyền lực trong tay và bị quyền lực tha hóa. Joker đã bắt Harvey Dent phải đứng trước sự lựa chọn khốc liệt-cho dù có hào nhoáng theo kiểu Cesar- “hoặc chết như một anh hùng, hoặc sống đủ lâu để nhìn thấy anh trở thành một tên tội phạm”. Harvey Dent đã chọn vế sau, không phải vì anh ta muốn sống, mà vì anh ta nhận ra xã hội Gotham không xứng đáng có một anh hùng chết cho nó.
Và chính vì vậy nên Người Dơi phải chết.
Christopher Nolan đã cố gắng duy trì niềm tin nhỏ nhoi của chúng ta vào tính hướng thiện của con người. Thử nghiệm chứng minh bản chất ích kỷ của con người của Joker thất bại, khi người dân trên hai chiếc tàu chở đầy chất nổ chấp nhận cái chết của mình chứ không thay bằng mạng sống của người khác, nhưng liệu thắng lợi nhỏ nhoi đó có đủ sức xóa đi tiếng cười giễu cợt đinh tai nhức óc của Joker bên tai Người Dơi “Ai nói là ta định giết nhà ngươi? Ta giết nhà ngươi làm gì? Nhìn lại mình xem! Chúng ta đâu có khác nhau? Chúng ta đều là những con quái vật!”

Bóng đêm lại một lần nữa che phủ Gotham. Ngọn đèn tín hiệu phóng chùm sáng mang tiêu ký của Người Dơi từng ngạo nghễ vươn lên bầu trời Gotham bị đập nát, từng đàn chó săn gầm gừ dẫn đường cho cảnh sát truy đuổi người hùng đã luống tuổi, không tình yêu, không niềm tin, không tương lai của chúng ta trong những hẻm phố đen ngòm, và Người Dơi, người bảo trợ bí mật của Gotham bị chính những người mà anh bảo trợ nguyền rủa, truy đuổi. Đó là số phận do chính Người Dơi lựa chọn, khi anh xoay nửa bộ mặt trong sáng của Harvey Dent ra ánh sáng, khi anh nói “thế giới này xứng đáng với cái gì đó hơn là sự thật”.

Nhưng liệu nó có thực sự xứng đáng?
"Về sau, sau nhiều năm đã qua, tôi mới hiểu được điều bí ẩn của hai cây phong. [...]

Nhưng việc khám phá ra chân lý giản đơn ấy cũng vẫn không làm tôi vỡ mộng xưa, không làm tôi bỏ mất cách cảm thụ của tuổi thơ mà tôi còn giữ đến nay. Và cho đến tận ngày nay tôi vẫn thấy hai cây phong trên đồi có một vẻ sinh động khác thường. Tuổi trẻ của tôi đã để lại nơi ấy, bên cạnh chúng như một mảnh vỡ của chiếc gương thần xanh.."

[Người thầy đầu tiên - Tsinghiz Aitơmatốp]
"Một buổi chiều, sau ngày làm, chúng tôi ngồi bên đống lửa, chúng tôi đã ăn xong và thung dung nghỉ ngơi.

- Đanikê, trước khi đi ngủ, anh kể cho nghe chuyện gì về chiến tranh đi - Tôi nài.

Thoạt đầu Đaniyar lặng thinh, hình như còn bực mình là đằng khác. Anh nhìn ngọn lửa hồi lâu, rồi như để trả lời cho những suy tư riêng của mình, anh nói bằng giọng khàn khàn:

- Không, các cậu không nên biết gì về chiến tranh thì hơn.

Rồi anh quay đi, vơ lấy một ôm cỏ khô ném vào đống lửa, và bắt đầu thổi cho cháy bùng lên, mắt không nhìn ai trong bọn chúng tôi.

Đaniyar không nói gì thêm. Nhưng, chỉ một câu ngắn ngủi ấy từ miệng anh nói ra cũng đủ khiến chúng tôi hiểu được rằng không thể nói về chiến tranh một cách đơn giản như vậy, không thể từ đó mà tạo nên một truyện cổ tích đưa ta vào giấc ngủ. Chiến tranh đọng lại thành máu trong trái tim sâu thẳm của con người, và kể chuyện về nó không phải là dễ dàng. Tôi xấu hổ với chính mình, và không bao giờ tôi hỏi chuyện Đaniyar về chiến tranh nữa."

[Giamilia - Tsinghiz Aitơmatốp]

Hãy nói yêu thôi, đừng nói yêu mãi mãi

Hãy nói yêu thôi, đừng nói yêu mãi mãi.
Tác giả: Khuyết danh.

Sáng nay, trong khi sắp xếp những chồng thư cũ, tôi tình cờ đọc lại một bài thơ ngắn của Jacques Prévert mà cô bạn cũ nắn nót chép tặng trên một tờ thư có in hoa rất đẹp…

Bài thơ vỏn vẹn năm câu được cô đặt vắt qua hai trang giấy một cách đầy ngụ ý.

Trang thứ nhất:

Tôi sung sướng và tự do
Như ánh sáng
Bởi hôm qua anh ấy nói với tôi rằng anh ấy yêu tôi


Hai câu cuối bị đẩy qua trang sau:

Anh ấy đã không nói thêm
rằng anh ấy sẽ yêu tôi mãi mãi…


Khi đọc bài thơ này cách nay hai mươi năm, tôi đã cảm nhận nó bằng một tâm hồn tươi trẻ. Bây giờ, cuộc sống giúp tôi nhìn có lẽ đã khác đi về bài thơ trên trang giấy đã ố vàng này.

Cô gái trong thơ nhạy cảm và tinh tế, vì đã không đợi đến khi người mình yêu quay lưng mới xót xa nhận ra rằng tự do “như ánh sáng” chỉ là một thứ tự do mong manh. Hạnh phúc “như ánh sáng” là một hạnh phúc có thể vụt tắt bất cứ lúc nào.

Nhưng giả sử chàng trai có nói thêm rằng “sẽ yêu mãi mãi”, hoặc có thề hứa trăm năm đi nữa… ai dám khẳng định trái tim chàng sẽ không đổi thay? Nếu từng đọc Ruồi Trâu, hẳn bạn còn nhớ đoạn văn này: “Ràng buộc con người không phải là lời thề. Chỉ cần mình tự cảm thấy thiết tha với một điều nào đó, thế là đủ rồi.”

Ngoài sự “thiết tha tự nguyện” đó ra, chẳng có gì ràng buộc được trái tim con người, nên đừng tin chắc rằng ai đó sẽ mãi không đổi thay. Cũng không thể buộc ai đó không được đổi thay.

Trên đời không có thứ vũ khí hay quyền lực tuyệt đối nào có thể níu giữ trái tim một khi nó đã quyết tâm rẽ lối. Cho dù đó là nhan sắc, một tình yêu sâu đậm, những kỷ niệm sâu sắc đắm say. Càng không phải là sự yếu đuối, sự khéo léo sắc sảo hay vẻ thông minh dịu dàng, sự giàu có hay thương hại…Những thứ đó có thể níu kéo một thân xác, một trí óc…nhưng không thể níu kéo một trái tim.

Trái tim vốn là một tạo vật mong manh và thiếu kiên định. Vì vậy, hãy tin vào điều thiện, lòng tốt, vào nhân cách và năng lực…nhưng đừng tin vào sự bất biến của nhận thức và tình cảm nơi con người. Hãy tin là mình được yêu trong khoảnh khắc này, nhưng đừng chắc rằng mình sẽ được yêu mãi mãi. Nếu chịu chừa chỗ cho sự đổi thay, ta sẽ tránh được không ít tổn thương sâu sắc.

Tôi không cho niềm tin là món quà vô giá mà ta dành cho người khác. Bởi đôi khi, sự tin tưởng hoá ra là một việc rất… đơn phương và vô trách nhiệm. Nó có nghĩa bắt người kia vào rọ, không tính đến khả năng thay đổi của trái tim con người.

Tin tưởng là trút gánh nặng sang vai người khác, bất kể người ta có chịu nhận nó hay không. Việc nhận định hay quyết định vấn đề không còn dựa vào sự thận trọng, tỉnh táo, sáng suốt hay sự nhạy cảm, bao dung của ta mà hoàn toàn giao phó cho người khác.

Và nếu khi họ thay đổi, ta thường nhân danh sự tin tưởng tuyệt đối mà mình đã tự nguyện gửi gắm để cho phép mình cái quyền được ghép tội họ.

Nhưng, bất cứ ai cũng có thể có lúc đổi thay.

Sự thay đổi của người khác, nhất là ở người ta vô cùng yêu quý, chắc chắn khiến ta tổn thương. Nhưng hãy nhớ rằng người quân tử khi đã hết tình cảm thì thường tỏ ra lạnh nhạt. Như ẩn sĩ Urabe Kenkô trong tập Đồ Nhiên Thảo đã viết: “Khi người sáng chiều hết sức thân quen, không có gì ngăn cách bỗng một hôm lại làm mặt lạ và có cử chỉ khác thường, chắc hẳn sẽ có kẻ bảo: “Sao xưa thế kia mà bây giờ lại thế khác?” Theo ta, thái độ lạnh lùng đó chứng tỏ người ấy hết sức đàng hoàng và thành thật.”

Cuối cùng đó mới chính là cốt lõi của tình yêu, tình bạn và những mối quan hệ thân sơ khác. Sự thành thật, chứ không phải là lời hứa vĩnh viễn thủy chung. Bạn có thể yêu hay ghét. Thích hay không còn thích nữa. Chỉ cần thành thật, bạn sẽ luôn luôn thanh thản.

Tôi đọc lại lần nữa bài thơ ngắn ngủi trên tờ thư cũ, và cảm nhận một cách rõ rệt vẻ trách móc đắng cay dịu dàng rất đỗi con gái. Nhưng ít nhất cô gái trong bài thơ kia cũng biết rằng người yêu cô đã rất thành thật, khi không hứa một điều mà anh không tin chắc. Cô cũng biết trái tim con người là một tạo vật hoàn toàn tự do, và một khoảnh khắc đắm say hạnh phúc không hề là lời hứa hẹn vĩnh cửu.

Cô bạn yêu quý của tôi chắc cũng nhận ra điều đó, nên đã viết thêm một dòng chữ xinh xinh vào cuối trang thư, một dòng ngắn mà tôi không bao giờ quên được:

“Hãy nói yêu thôi, đừng nói yêu mãi mãi.”
"Chúa đã bỏ loài người
Phật đã bỏ loài người
Này em, xin cứ phụ người
Này em, xin cứ phụ tôi."

[Trịnh Công Sơn]

Thứ Năm, 3 tháng 12, 2009

"Lúc đó tôi không có mắt, thích là thích, chẳng có cách nào khác."

"Hồi đó cảm thấy thuốc lá đúng là một liều thuốc rất tốt, ít nhất nó khiến người ta còn có việc để mà làm trên thế giới này."

"Sau này em sẽ hiểu, ở nơi nào đó trên thế giới này có cô ấy xuất hiện, những người khác chỉ là tạm bợ.

Anh không muốn tạm bợ."

(lời Hà Dĩ Thâm)

[Bên nhau trọn đời - Cố Mạn]

"...Nhưng tôi đã nhiều lần tự nói với mình, làm sao cô ấy có thể không trở lại?

Dĩ Thâm vẫn đang chờ kia mà!

Chỉ có điều chúng tôi không ngờ lại lâu như vậy, chờ đợi không đáng sợ, cái đáng sợ nhất là không biết phải chờ đến bao giờ.

Một năm, hai năm... năm thứ năm... năm thứ sáu...

Năm thứ bảy."

(lời Hà Dĩ Văn)

[Bên nhau trọn đời - Cố Mạn]
"Hôm đó về đến nhà, ngồi trên ghế sôpha, nhìn trời sáng dần qua cửa sổ.

Do bận công việc, căn nhà thuê đã lâu không sửa, chậu hoa trên ban công mua về để đấy, không biết đã ra hoa tự lúc nào, vài cánh đã tàn phất phơ trước gió, chỉ còn một cánh màu đỏ trên đài hoa nhỏ xíu màu tím nhạt.

Bỗng nhiên tôi cảm thấy mình giống như loài hoa không biết tên này.

Lặng lẽ ra hoa, lặng lẽ tàn, ngày tháng trôi qua không ai thăm hỏi."

(lời Hà Dĩ Văn)

[Bên nhau trọn đời - Cố Mạn]

1. tôi không thích Hà Dĩ Văn. nhưng những lời này của cô ấy đã thật sự làm tôi cảm động.

2. thích nhất Cố Mạn ở những chữ "loài hoa không biết tên"

không phải là không tên, mà là không biết tên

có những thứ,
dù ta có biết hay không,

chúng vẫn cứ tồn tại..

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2009

Lại đã đông rồi

Lại đã đông rồi

Thụy Thảo

Lại đã thêm một mùa đông nữa đến!
Phố ngoài kia như vội sớm lên đèn
Hoa sữa muộn mằn cố thơm cuối vụ
Người qua đường trong sương sớm lạ - quen...

Ở cuối phố, cây vàng thêm lớp nữa!
Cứ chen nhau đẩy thuyền lá đầy đường
Xui bước chân những ai người khách lạ
Lại chạnh lòng phiêu bạt nhớ cố hương...

Hà Nội phố - Hà Nội đông nữa đến !
Hà Nội trầm tư trong gió bấc đầu mùa
Hà Nội trở mình trong những đêm chớm lạnh
Đừng xui tình nhớ lại chuyện ngày xưa ...

Anh có nhớ câu thơ về Hà Nội?
Liệu có ai đi ngang cửa không vào?
Cái cánh buồm của một thời hoa đỏ...
Đến bây giờ ... xa thẳm tận phương nao?
"những ngày chỉ muốn nhớ
âm thầm xoè bàn tay
gọi ban mai thức giấc
cám ơn đã những ngày"


[Hành trình của nỗi nhớ (lời đề từ) - Tú Trinh]

Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2009

Tự tình phố

Tự Tình Phố

Khương Hà

Em cõng chiều vàng đi đâu
hỡi gót chân của nắng?
Phố mùa đông phố rất trầm ngâm
Vội gì em ! Theo ta này, chậm chậm
Trút xiêm y treo nắng lại trên đồi

Ta sẽ nhắn ngàn lau phơ phất trắng
Khe khẽ giùm kẻo gió cuốn em đi...

Phố mùa đông phố tím lưu ly
Em có khóc cho một lần gặp gỡ?
Ta nghe từ tình sử xa xưa
Nắng thủy tinh nên nắng thường dễ vỡ!

Ta sẽ dặn rừng thông đừng kể nữa
Gợi gì phút chia ly!

Thế rồi em cũng đi
Dẫu biết vậy nhưng làm sao khác được
Ta nghiêng chén cho chiều buồn đổ xuống
Phố thênh thang giấc mộng hoang đường...

Về với dốc ngồi nghe chiều khép cửa
Những buồn vui theo gió cuốn lên trời
Ơi nước mắt ở lưng chừng nỗi nhớ
Trăm cơn say xin đổi một trận cười !

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2009

Con gà qua đường

Phía đằng xa, một con gà đang băng qua đường. Vấn đề đặt ra là tại sao con gà đó lại… băng qua đường? Dưới đây là câu trả lời của một số giới:

Ý kiến của 1 số vị nổi tiếng:

- Platon: Vì như vậy là tốt cho con gà ấy: bên kia đường là đúng.

- Aristote: Vì bản chất của con gà là băng qua đường.

- R. Descartes: Để đi qua phía bên kia đường.

- S. Freud: Việc bạn bận tâm đến việc con gà băng qua đường cho thấy cảm xúc tình dục bất an của bạn.

- De Gaule: Con gà có thể đã băng qua đường, nhưng nó còn chưa băng qua quốc lộ.

- M. Luther King: Tôi mơ về một thế giới mà ở đó tất cả gà đều có thể được băng qua đường mà không cần biết lý do tại sao.

- R. Nixon: Con gà không có băng qua đường. Tôi lặp lại: con gà không bao giờ băng qua đường.

- G. W. Bush:

Việc con gà đã băng qua đường bất kể nghị quyết của LHQ chứng tỏ một sự đối đầu với dân chủ, tự do, công lý. Điều này cho thấy lẽ ra chúng ta phải dội bom con đuờng này từ lâu rồi. Để đảm bảo cho hòa bình trong vùng này, tránh việc các giá trị mà chúng ta bảo vệ bị xâm hại, chúng ta quyết định gửi 17 hàng không mẫu hạm, 146 máy bay tiêm kích, 250,000 quân, 154 tên lửa hành trình đến để xóa bỏ mọi dấu vết của con gà tại vùng này trong vòng bán kính 5,000 km. Sau đó, chúng ta quyết định sẽ thay mặt thế giới cai trị vùng này, thiết lập hệ thống các chuồng gà theo những chuẩn mực an ninh phù hợp nhất. Con gà trống lãnh đạo các chuồng gà sẽ được bầu chọn một cách dân chủ. Để cân đối chi phí chỉ cần kiểm soát các loại thực phẩm chế biến từ trứng gà trong vòng 30 năm mà thôi. Trong vùng đất mới của công lý, tự do và dân chủ này, chúng ta có thể đảm bảo rằng không bao giờ còn có chuyện gà băng qua đường nữa, và cũng chẳng còn con... đường nào trong vùng nữa.

Chúng tôi không cần biết con gà có qua đường hay không, điều chúng tôi quan tâm là nó đứng ở phía nào của đường, một là phía chúng tôi, hai là phía bên kia, không có 1 vị trí trung lập nào cả !

- Alex Ferguson: Phong độ của con gà khi đi qua đường có thể là nhất thời, chỉ có đẳng cấp của nó là vĩnh cửu.

- David Beckham: Con gà đi qua đường nhờ sử dụng dầu nhớt Catrol Power 1- Uy lực của Beckham

- Shinichi Kudo: Dựa vào dấu chân để lại kết luận con gà đã qua đường.

- Mourinho: Không cần ghi nhiều bàn, chỉ cần con gà qua đường.

- Moggi: Con gà đang trên đường xuống Seri B

- Marcello Lippi: Chúng ta cần nhường quyền kiểm soát đường phố cho con gà. Việc của chúng ta là chăng bẫy.

- Đội đua Relnault: Đã tìm thấy thành viên mới cho mùa giải sau.

- Hugo: con gà, cẩn thận đấy nhééé, bấm phím số 4 để qua trái và số 5 để qua phải, trên đường đi phải cẩn thận cạm bấy đấy nhééé, ồ không, con gà đã thua rồi, số điểmcủa con gà là 0 điểm.

- Vương Ngọc Yến (trong Thiên Long Bát Bộ): Nếu xét về vị trí của các dấu chân trên đường thì đây là chiêu ” OK quá quan ” ( gà đen qua đường ) trong bộ pháp ” Lăng Ba vi bộ“

- Tiểu Long Nữ: Con gà qua đường ư? Thế liệu nó có được lấy học trò của nó không?


- Dương Quá: Gà có biết cô cô của ta ở đâu không?

- Mỹ Tâm: Gà que gà que bướcccccccccc wa đường kia. Gà que gà que tóc nâu là em đó!!

- Hậu Nghệ: (rút cung tên ra)

- Hồng Thất Công: Tĩnh ơi hôm nay ta sẽ dạy cho con chiêu…

- Gunbound player: đi lang thang trên đường có con gà có con gà. Gà ko biết bắn là con gà quay.

- Mỹ Linh: Chị thấy gà hôm nay qua đường rất xuất sắc, nhưng thật tiếc là gà đã chọn sai đường. Gà cần phải cố gắng ở lần sang đường tới, nhưng chị vẫn bỏ phiếu bầu cho gà.

- Long Vũ:
-(BL thể thao) Con gà đang băng quá đường… băng qua đi! … Băng.!!!! … không qua đường! Thật đáng tiếc thưa các bạn…
- (MC Chiếc nón kỳ diệu) Vâng, con gà đã lọt vào ổ voi số 4, như vậy con gà có nên chơi tiếp hay ngưng cuộc chơi ạ ?

- Lại Văn Sâm: xe nhiều quá, con gà có muốn xài quyền trợ giúp nào ko? 50:50 nhé, hay gọi điện thoại?

- BLV Quang Huy :ko được rồi thưa các bạn, con gà đã việt vị rồi !

- Thảo Vân: Chương trình hôm nay có sự tham gia của anh Đức Hiệp

- Đỗ Tư Đông (Nguyên phó chủ nhiệm Khoa báo chí, Trường CĐ PT-TH TW1): Gà muốn qua đường à, thì đôi bên phải cùng có lợi, hay là để thầy đèo gà qua đường nhé, tiện đường mình ghé qua nhà nghỉ.

Ý kiến của 1 số Bộ ngành:

- Bộ GDĐT: Tỷ lệ gà qua đường đạt 100%, trong đó số gà qua đường khá và giỏi chiếm 99%, không có gà qua đường xếp hạng yếu.

- Cục Đường bộ (Bộ GTVT): Tất cả gà qua đường đều phải khâu các loại túi lại, không được đem theo số tiền vượt quá 20.000 VNĐ để tránh làm "hư hỏng" các cán bộ soát vé tại các Trạm thu phí đường bộ.

- VN Airlines: Chúng ta cần phải thuê con gà khác, con gà này không sang được đường vì chân nó chỉ phù hợp cho nhảy qua rãnh nước hoặc cùng lắm vượt qua ngõ.

- VFF (Liên đoàn bóng đá VN): Trong vòng 10 năm tới, chúng tôi sẽ đưa gà VN vào top 10 gà qua đường nhanh nhất Châu Á và có thể dự World Cup gà qua đường 2018.

Ý kiến của 1 số đại diện ngành nghề:

- Nhà Sinh học: Con gà băng qua đường là một động thái cân bằng hệ sinh thái môi trường.

- Nhà Vật lý: ta không thể nói con gà băng qua đường nếu không có một hệ quy chiếu đúng, trong đó lề đường sẽ làm gốc tọa độ, chiều dương là hướng bên kia đường.

- Nhà Toán học: căn cứ vào vận tốc của con gà vào thời điểm hiện tại thì nó sẽ gặp chiếc xe tải đang tiến tới tại giữa đường

- Nhà Logic học: nếu không có gì hấp dẫn con gà ở bên kia đường thì nó sẽ không băng qua đường, vậy có thể kết luận rằng bên kia con đường có điều gì đó hấp dẫn con gà băng qua đường.

- Nhà thần học: phải chăng con gà muốn thay đổi tôn giáo của nó?

- Nhà tư tưởng học: Rõ ràng ta không thể nói "con đường đang băng qua con gà" được vì vậy "con gà băng qua đường" là một tinh thần đúng đắn.

- Nhà văn: "Con đường nhỏ nhỏ, gió hây hây. Gà muốn băng qua để tìm bầy"

- Cảnh sát giao thông: Con gà sẽ không phạm luật nếu nó có đội nón bảo hiểm.

- Công an Hộ khẩu: Gà muốn qua đường để vào chuồng bên kia đường hả. Vậy phải xin giấy phép của chuồng bên kia đồng ý cho vào nhé. Làm sao để xin giấy phép ấy à. Đơn giản lắm, chú phải sang bên kia đường đã!!!

- Luật sư tố tụng: Căn cứ vào điều 24 c bộ luật dân sự, tôi tố cáo con gà đang xâm nhập gia cư bất hợp pháp.

- Luật sư bào chữa: Phản đối, thưa quý tòa. Vì thân chủ của tôi có thể quay lại khi ông ta vừa tới mép đường.

(nguồn www.chungta.com)

Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2009

"...tôi yêu tôi ở đó..."

[Đường còn dài, còn dài... - Nguyễn Thiên Ngân]
"Tình yêu dành cho một người cũng giống như ngọn núi Phú Sĩ. Một khi đã được hình thành, nó sẽ mãi sừng sững ở đó. Bạn không thể di chuyển ngọn núi, chỉ có thể tự định việc mình: tiến lại gần, hay dần rời xa?

Ngọn núi thì mãi ở đó, quan trọng là do bạn mà thôi.."

[lời tựa trong bài hát "Dưới chân núi Phú Sĩ" - "Under Mount. Fuji" - Edison Chan]

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2009

Bà Hajra Catic, 64 tuổi, sống tại Srebrenica, đang xem những hình ảnh buổi xét xử cựu lãnh đạo người Serbia ở Bosnia, ông Radovan Karadzic, tại Tuzla, Bosnia, trong căn phòng dán bức ảnh của các nạn nhân bị thiệt mạng trong vụ thảm sát người Hồi giáo Bosnia tại Srebrenica năm 1995.

[nguồn: vietnamnet.vn]

______________________

thật khó để tưởng tượng. sống trong một căn phòng đậm đặc nỗi đau quá khứ như vậy. không thể quên. không được phép quên. về tội ác.

giờ đây trong căn phòng ấy, hàng trăm hàng nghìn con mắt đang hướng về ông ta, nhưng chỉ một đôi mắt còn chớp được mà thôi.
"Thật khó để viết về một tác phẩm ảnh hưởng sâu rộng đến định hướng cuộc sống của chính bạn. Bởi bạn có nguy cơ phơi bày đời mình một cách khó kiểm soát."

[VWC - yxine.com]

Thứ Năm, 5 tháng 11, 2009

"People say “There are other fish in the sea.”
I say "**** you, she was my sea."


[Jen Faulkner]

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2009

"Very early in my life, it was already too late."

[The lover - Marguerite Duras]
"I already forget how I used to feel about you."

[Eternal sunshine of the spotless mind]

Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2009

"Khi cô giảng bài êm như ru thì bạn A ngồi ở bàn đầu đang...chống cằm nhìn ra khung cửa sổ, nhìn nắng, nghe chim hót; bạn B ngồi ở góc tường đang mơ màng xem lát về nhà sẽ được mẹ...cho ăn món gì; bạn C ngồi bàn cuối đang tưởng tượng ra cảnh mình đang nằm ngủ trong phòng máy lạnh với tiếng nhạc du dương...; bạn D thì đang ước được online..."

[từ báo Mực tím]

mình là bạn ABCD =))

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2009

Truyện cổ tích

Truyện cổ tích

Nguyễn Bính

Em ạ! Ngày xưa vua nước Bướm
Kén nhân tài mở Điệp lang khoa.
Vua không lấy Trạng, vua thề thế
Con bướm vàng tuyền đậu Thám Hoa.

Vua liền gọi gả con gái yêu
Nàng đẹp như em, chả nói điêu!
Vua nuông hai vợ chồng phò mã
Cho nhởn xem hoa sớm lại chiều.

Một hôm hai vợ chồng quan Thám
Mê mãi xem hoa lạc lối về.
Vợ khóc: "Mình ơi! Em hãi lắm!"
Trời chiều lạc lối tới vườn lê.

Vườn đầy hoa trắng như em ấy!
Bỗng một bà tiên hiển hiện ra.
Sao mà đẹp thế! Tiên mà lại!
Nữ chúa vườn lê đi thăm hoa.

Bà thấy vợ chồng con bướm dại
Sụt sùi ngồi khóc dưới hoa lê
Đến bên âu yếm, bà thương hại:
"Ý hẳn hai con lạc lối về?"

"Đây về nước Bướm đường thì xa,
Về tạm nhà ta ngủ với ta.
Có đủ chăn thêu cùng gối gấm,
Có nhiều bánh ngọt ướp hương hoa..."

Đêm ấy chăn êm và gối êm,
Vợ chồng ăn bánh với bà tiên
Ăn xong thoắt chốc liền thay lốt,
Chồng hóa thành anh, vợ hóa em.

1938

__________________________


xDDDD kể chuyện thật có duyên

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2009

"Trong một thành phố phức tạp vẫn có thể sống rất đơn giản."

[trích Bên nhau trọn đời - Cố Mạn]

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2009

Gió thu

Gió thu

Tản Đà

Trận gió thu phong rụng lá vàng
Lá rơi hàng xóm lá bay sang
Vàng bay mấy lá năm già nửa
Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng.

Trận gió thu phong rụng lá hồng
Lá bay tường bắc lá sang đông
Hồng bay mấy lá năm hồ hết
Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng không.

_______________________________
nói ra thì thấy kì lạ. nhưng khi đọc bài thơ này, mình cảm thấy mình đã ở đó. mình đã là người đó. da mình đã chạm gió thu, mắt mình đã chứa lá bay.

tay mình đã buông
đầu mình đã quay
và mắt không cay..

thật kì lạ. mình còn nghĩ đến xiêm áo và màu tường rêu phủ.

thật kì lạ. mọi thứ ảo mà rõ, rõ mà không có..

luân hồi

ôi. chỉ là một bài thơ.
"Lòng ta là những hàng thành quách cũ
Tự ngàn năm bỗng vẳng tiếng loa xưa."

(Vũ Đình Liên)

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2009

Có thể là em quên

Có thể là em quên

- Đàm Huy Đông -

Có thể là em không nhớ. Em quên
Chiếc áo cũ lâu ngày không mặc nữa
Chiếc áo có những nét chữ bạn bè yêu quý
Có nồng nàn sắc phượng trên vai.

Có thể là em không nhớ. Em quên
Những nhành hoa tim tím mùa yêu cũ
Dọc bờ sông là hai hành lang cỏ
Cánh chim dỗi mùa trốn học rong chơi.

Có thể là em không nhớ. Em quên
Thuở những lẻ loi tìm nhau cất cánh
Thuở những hẹn hò ủ bao chồi lộc
Cho vườn xưa thơm ngát nụ thơ đầu

Có thể em quên màu hoa đỏ trong tim
Khi câu thơ xưa không còn là nắng lửa
Khi kỉ niệm ngủ ngon lành không quẫy cựa
Trong chiếc kén vàng năm tháng se lên.

Có thể là em không nhớ. Em quên...

Xuân về trên thực đơn

Xuân về trên thực đơn

O. Henry


Đấy là một ngày tháng Ba.

Không bao giờ, nên nhớ là không bao giờ bạn viết như thế khi bắt đầu một mẩu truyện. Không có câu mở đầu nào tệ hại hơn nữa. Như thế là thiếu sáng tạo, đơn điệu, khô khan, và có thể rồi chỉ có gió… Nhưng trong hoàn cảnh này, câu trên lại có thể được người đọc chấp nhận. Vì lẽ, câu văn sau đây, đánh lẽ có thể được dùng để khánh thành mẩu truyện, lại quá cường điệu và đường đột nếu ta dứ trước mắt người đọc mà thiếu sự chuẩn bị.

Sara đang khóc trên bản thực đơn của cô.

Cứ nghĩ đến một cô gái New York nhỏ nước mắt trên một bản thực đơn!

Để lý giải việc này, cho phép bạn đoán là có thể do tôm hùm không có trong thực đơn, hoặc là cô đã thề trong mùa Chay Tịnh (thời gian 40 ngày trước lễ Phục Sinh, khi nhiều tín đồ Ki-tô thực hiện nghi thức tôn giáo gồm nhịn ăn và tỏ lòng sám hối về tội lỗi của mình) là sẽ không đụng đến món kem lạnh, hoặc là cô đã lỡ gọi món hành, hoặc là cô đã có một bữa ăn thịnh soạn. Rồi khi mọi giả thuyết này đều không đúng, xin bạn vui lòng để câu chuyện được tiếp tục.

Cái ông, đã tuyên bố rằng thế giới chỉ là một con sò mà ông có thể dùng thanh gươm để tách nó ra, thì có thể gây tiếng vang lớn hơn là do ông có thực tài. Tách hai mảnh vỏ của con sò bằng gươm thì chẳng khó gì cả. Nhưng có khi nào bạn thử tách con sò trên cạn với máy đánh chữ không?

Sarah đã cố tách vỏ sò bằng vũ khí của cô. Không biết gì về tốc ký, cô không thể tham gia vào vũ trụ của những tài năng mà bạn thấy thường đi ăn trưa với đồng nghiệp của họ trong thời gian xe điện ngầm bãi công. Cô chỉ là thư ký đánh máy làm việc tự do trong những nghề kỳ lạ chuyên lo ghi chép.

Thành tựu sáng chói và danh giá nhất trong việc Sarah đấu giá với đời là sự dàn xếp với nhà hàng Schulenberg’s - một cái tên Đức. Nhà hàng này nằm kế cận toà nhà có phòng mà cô thuê trọ. Một buổi tối nọ, sau một bữa ăn đáng giá 40 cent gồm năm món (được dọn ra cho khách nhanh như khi bạn ném năm quả bóng vào ông da đen), Sarah mang đi bản thực đơn. Nó được viết bằng nét viết thảo, hầu như không ai đọc ra đấy là chữ Anh hay chữ Đức, mà cách viết lại lộn xộn đến nỗi nếu bạn không cẩn thận thì bạn có thể bắt đầu bữa ăn bằng cây tăm xỉa răng, rồi đến bánh ngọt, rồi đến món súp và ngày trong tuần. (Người phương Tây bắt đầu bữa ăn bằng món súp, thường là “súp trong ngày” nếu là trong nhà hàng, cuối cùng là bánh ngọt. Vì thực đơn viết lộn xộn nên thứ tự các món ăn bị đảo lộn và lại viết không rõ ràng nên món “súp trong ngày” bị đọc thành “ngày trong tuần”).

Ngày kế, Sarah cho Schulenberg xem một tờ thực đơn hoàn chỉnh, chữ đánh máy đẹp, với tên các món ăn được sắp xếp đầy hấp dẫn đúng theo nghĩa vụ của chúng và đặt dưới tiểu tựa thích hợp, từ các món ăn nhẹ đến việc không nhận trách nhiệm về áo khoác và dù của khách.

Schulenberg xem như được thực sự là công dân Mỹ ngay tại chỗ, nhờ việc chỉnh sửa ngữ pháp và chính tả trên bản thực đơn của ông ! Sarah đạt được thoả thuận với ông. Cô sẽ đánh máy thực đơn cho hai mươi mốt bàn trong nhà hàng - một bộ thực đơn mới cho mỗi bữa ăn tối, thực đơn mới cho các bữa ăn sáng và trưa khi món ăn có nhiều thay đổi hoặc khi tờ thực đơn cũ đã nhăn nheo. Để bù lại, mỗi ngày Schulenberg cung cấp cho Sarah ba bữa ăn do một anh bồi – đầy hăng hái hết mức có thể - mang đến tận phòng trọ. Mỗi buổi chiều, Sarah sẽ nhận một bản nháp thực đơn viết bằng bút chì, thảo ra những gì mà Định Mệnh sẽ dành cho thực khách vào ngày hôm sau.

Hai bên đều hài lòng với thoả thuận này. Bây giờ thực khách của Schulenberg biết món mình ăn có tên gọi là gì, tuy đôi lúc vẫn còn hoang mang do chính bản chất lôi thôi của các món ăn ấy. Còn Sarah thì được ngày ba bữa trong mùa đông lạnh lẽo, vô vị, và chính yếu đấy là điều cô cần.
Một ngày, bản niên biểu thời tiết dối trá cho là mùa xuân đã đến. Mùa xuân sẽ đến khi nó phải đến. Tuyết của Tháng Giêng vẫn còn cố chấp bao phủ trên đường phố. Các đàn óc-gan vẫn còn chơi khúc nhạc về mùa hè, với bao âm điệu rộn rã của Tháng Mười Hai. Mọi người bắt đầu ghi chú ba mươi ngày trước để nhớ mua áo mùa Phục Sinh. Những người gác dan đã đóng vòi hơi nước (hơi nước nóng được bơm vào hệ thống ống dẫn đên các phòng để sưởi ấm). Và khi những việc như thế xảy ra, ta có thể biết rằng thành phố vẫn còn bị mùa đông siết chặt.

Một buổi chiều, Sarah run rẩy trong phòng ngủ lịch sự của cô; toà nhà được sưởi, được quét dọn kĩ càng, mọi tiện nghi đều có; phải nhìn tận mắt mới đánh giá cao được. Cô không có việc gì làm ngoại trừ mấy bản thực đơn của Schulenberg. Sarah ngồi trên chiếc ghế đu làm bằng gỗ cây liễu kêu cót két, và nhìn ra ngoài cửa sổ. Tấm lịch trên tường khóc với cô không ngớt: “Mùa xuân đã đến, Sarrah, mùa xuân đã đến, báo cho cô biết đấy. Hãy nhìn con số của tôi đây, Sarah, các con số của tôi chỉ về mùa xuân. Cô cũng có các số đo đẹp – các số đo của mùa xuân – nhưng tại sao cô lại nhìn ta cửa sổ buồn bã thế kia?”

Phòng của Sarah nằm ở mặt sau của toà nhà. Khi nhìn qua cửa sổ, cô có thể thấy bức tường gạch đỏ không cửa sổ của một nhà máy sản xuất bao bì trên con đường kế bên. Nhưng bức tường trong suốt như thuỷ tinh, và Sarah đang nhìn xuống một con đường mòn dài, rợp bóng cây anh đào và cây đu, với hai bên lề lót những bụi mâm xôi và dây hồng dại.

Đội tiền quân đích thực cuả mùa xuân thì quá tinh tế, tai và mắt ta khó nhận ra. Người khác phải thấy có hoa huệ tây đang nở, sơn thù du, tiếng hót của chim xanh – ngay cả lời nhắc nhở thô thiển kiểu như cái bắt tay vĩnh biệt của kiều mạch và sò biển - truớc khi họ có thể dang rộng tay chào đón Nàng Xuân vào vòng tay vô vị.

Vào mùa hè năm trước, Sarah đã đi về miền quê và yêu một nông gia.

Khi bạn viết truyện, không bao giờ bạn nên viết trở về quá khứ theo cách như thế. Đấy là thứ nghệ thuật tồi, nó làm què quặt mọi sự chú ý. Phải tiến tới, tiến tới trước nữa.

Một tiếng gõ trên cánh cửa làm tan vỡ những mơ mộng của Sarah về những ngày hạnh phúc ấy. Anh bồi mang bản thảo tờ thực đơn cho ngày hôm sau, do ông giá Schulenberg thảo tay bằng bút chì.

Sarah lưu lại ở trang trại Sunnybrook trong hai tuần. Ở đấy, cô đã yêu WWalter, con trai của nông dân Franklin. Mấy nông dân đã từng yêu và thành hôn rồi trở thành cỏ trong thời gian ngắn hơn. Nhưng anh trai trẻ Walter Franklin là một nhà nông học tiến bộ. Walter đã tán tỉnh và chiếm được con tim của Sarah trên con đường mòn ấy, đầy bóng mát và các bụi mâm xôi. Họ đã ngồi bên nhau và hái các nụ hoa bồ công anh để bện thành vương miện cho mái tóc của cô. Anh đã phóng đại ca ngợi vẻ đẹp của các nụ hoa vàng trên mái tóc nâu của cô, và cô đã bỏ lại sợi dây chuỗi của mình ở đấy, bước đi về nhà vung vẩy chiếc mũ rơm trên tay. Họ hẹn sẽ cưới nhau vào mùa xuân - Walter bảo vào lúc có những dấu hiệu đầu tiên của màu xuân. Và rồi Sarah đã trờ lại thành phố để gõ máy đánh chữ.

Sarah ngồi xuống bên cái máy đánh chữ, luồn một tờ giấy cứng giữa hai trục lăn. Bình thường cô làm khá nhanh, chỉ trong vòng một tiếng rưỡi đồng hồ là cô đánh xong hai mươi mốt bản thực đơn.
Hôm nay thức ăn có nhiều thay đổi hơn bình thường. Các món súp lỏng hơn, không còn có thịt heo trong các món ăn nhẹ, mà lại có rau diếp Nga trong số các món thịt nướng. Tinh thần sang trọng của mùa xuân lan tràn trên khắp bản thực đơn. Thịt cừu, vốn ngay trước đấy còn nhảy nhót trên các sườn đồi xanh, đã được khai thác với nước sốt để kỷ niệm các vũ điệu. Bài hát của sò biển, tuy không bị ngậm miệng im tiếng, đã trở nên một khúc thì thầm của mùa xuân. Cái chảo chiên được xếp xó, bất động sau mấy thanh vỉ của lò nướng. Danh sách các món bánh trái cây dài ngoằng ra; các loại bánh nhiều béo đã biến mất; xúc xích, với tấm áo dày cộm cuốn quanh, không ở nán lại lâu.

Các ngón tay của Sarah nhảy múa như đàn chuồn chuồn lượn trên mặt nước ao mùa xuân. Cô đánh tên từng món ăn theo thứ tự từ trên xuống dưới, lấy mắt để điều chỉnh chính xác mỗi tên tuỳ dài ngắn.

Ngay trên các món tráng miệng là danh sách các loại rau. Cà rốt và đậu, măng tây ở trên bánh mỳ nướng, các loại cà chua và ngô phục vụ quanh năm, đậu ngự, bắp cải - và rồi -…

Sarah đang khóc trên bản thực đơn của cô. Những giọt lệ từ sâu thẳm của mối thất vọng nào đấy dâng lên trong tim cô và trào ra khoé mắt. Cô gục đầu trên cái giá của máy đánh chữ, và các phím chữ canh cách tạo nên khúc đệm khô khan cho những nức nở của cô.

Vì cô đã không nhận được thư từ gì của Walter trong hai tuần nay, và món kế tiếp trên bản thực đơn là món rau bồ công anh, bồ công anh trộn với trứng gì đấy – nhưng để ý đến trứng làm gì! - bồ công anh với những nụ hoa vàng chói mà Walter đã dùng để phong cho cô làm nữ hoàng của tình anh và cô dâu tương lai của anh - bồ công anh, quân tiên phong của mùa xuân, vương miện của nỗi sầu thảm của cô – đã gợi lại cho cô về những ngày hạnh phúc nhất.

Thưa quý bà, tôi thách quý bà dám cười nếu quý bà trải qua ba cuộc trắc nghiệm đau khổ này: giả dụ quý bà thấy những nụ hoa hồng mà ông nhà đã tặng bà khi bà trao trọn con tim mình cho ông ấy, giờ được dùng làm món rau trộn với nước sốt Pháp, dọn lên trước mắt bà ở nhà hàng Schulenberg! Nếu nàng Juliet thấy những biểu tượng của tình yêu do chàng Romeo trao tặng bị làm nhục như thế, thì hẳn cô ấy sẽ uống thứ thuốc độc kia sớm hơn là trong tình sử mà Shakespear đã viết!

Nhưng Nàng Xuân quả là ác độc! Nàng cần gửi tín hiệu của mình đến thành phố bao la nhưng lạnh lẽo với toàn đá và sắt. Không có ai để nhờ gửi ngoại trừ anh liên lạc viên rắn rỏi với lớp áo xanh nhám và dáng vẻ khiêm tốn. Anh chỉ là một quân sĩ phiêu lưu, cây dent-de-lion – răng sư tử, theo như giới bồi bếp Pháp gọi. Khi nở, anh giúp đỡ cho tình yêu, lồng lên mái tóc nâu của cô nàng tôi; khi còn non và mọng và còn búp, anh đi vào cái nồi luộc và phát tín hiệu của cô chủ tối thượng của anh.

Dần dần, Sarah cố cầm nước mắt. Cần phải đánh máy xong các bản thực đơn, nhưng, vẫn còn chím đắm trong cơn mơ lặng lờ với hoa bồ công anh vàng chói, cô lơ đãng lướt các ngón tay trên bàn phím một lúc, với trí óc và con tim vẫn còn vương trên con đường mòn giữa cánh đồng với anh nông gia trẻ. Nhung chẳng bao lâu cô đã nhanh chóng trở lại với những đường mòn lát đá của khu Manhattan, rồi cái máy đánh chữ lại lách cách vang lên như chiếc mô tô của cảnh sát đi giải tán đám đình công.

Lúc 6 giờ, anh bồi mang bữa ăn tối đến cho cô và manh đi các bản thực đơn đánh máy. Khi Sarah ăn, với một tiếng thở dài cô gạt qua một bên đĩa rau bồ công anh trộn trứng. Khi những nụ hoa vàng chói thắm đượm tình yêu bị chuyển thể thành mớ rau đen đủi thấp hèn ấy, những hy vọng mà cô ấp ủ từ mùa hè cũng héo úa, tàn tạ theo. Tình yêu có thể tự nuôi dưỡng nó, như Shakespear đã nói, nhưng Sarah không thể nuốt nổi món bồ công anh vốn khi còn là hoa cảnh đã tô điểm bàn tiệc tinh thần đầu đời được dọn cho tình cảm chân thật của con tim cô.

Lúc 7 giờ 30, đôi vợ chồng phòng bên bắt đầu cãi nhau; người đàn ông ở trên tầng trên đang thử nốt nhạc A trên cây sáo của ông, ga đốt xuống thấp hơn, ba chiếc goòng than đá bắt đầu xuống hàng – âm thanh duy nhất khiến cái máy hát ghen tức, những con mèo trên hàng rào sân sau bắt đầu rút lui. Với những dấu hiệu này, Sarah biết đây là giờ cô đọc sách. Cô lấy một quyển ra đọc, bắt đầu lang thang cùng với nhân vật chính trong truyện.

Chuông cửa kêu vang. Bà chủ trả lời. Sarah bỏ mặc nhân vật chính, nghe ngóng. Đúng thế, bạn sẽ làm y như cô! Rồi có một tiếng nói mạnh mẽ vang lên từ hành lang bên dưới, rồi Sarah phóng ra cửa, để mặc quyển sách nằm trên sàn nhà.

Bạn đã đoán đúng. Cô chạy xuống đến đầu cầu thang cùng lúc anh nông gia của cô cũng chạy đến đấy, nhảy một bước ba bậc, rồi cắt ngay lấy cô, gặt cả cô, không còn để lại gì cho dân đi mót lúa. Sarah nức nở:

- Tại sao anh không viết thư cho em? Tại sao thế?

- New York quả là một thành phố lớn. Tuần trước anh đến tìm em tại địa chỉ cũ.Lúc đấy anh mới biết là em đã dời đi hôm Thứ Năm rồi. Anh cảm thấy an ủi phần nào, vì tránh được ngày Thứ Sáu xui xẻo. Nhưng nó cũng không ngăn anh truy lùng em cùng với cảnh sát và nhiều cách khác, kể từ ngày ấy.

Sarah quả quyết:

- Em có viết thư cho anh!

- Anh không hề nhận được.

- Thế thì làm thế nào anh tìm được em?

Anh nông gia trẻ nở một nụ cười xuân:

- Tối nay anh ghé vào nhà hàng kế bên. Anh không cần biết ai là chủ; vào mùa này trong năm anh chỉ muốn ăn một món rau xanh gì đấy. Anh lướt mắt qua bản thực đơn đánh máy lịch sự ấy để tìm món như thế. Khi anh đọc xuống qua món bắp cải, anh đánh bật cái ghế ngã chỏng chơ, ầm ỹ gọi ông chủ. Ông ấy cho anh biết em ở đây.

Sarah thở phào vui sướng:

- Em nhớ ra rồi. Đấy là món rau bồ công anh ghi dưới bắp cải.

- Anh nhận ra nét chữ W nằm cao hơn hẳn các chữ khác do máy đánh chữ của em tạo ra. Chắc đi đâu trên quả đất này anh cũng nhận ra nó!

Sarah ngạc nhiên:

- Sao thế? Trong từ “bồ công anh” không có chữ W!

Anh trai trẻ rút từ túi áo ra bản thực đơn, chỉ vào một dòng. Sarah nhận ra đấy là bản thứ nhất cô đánh máy ban chiều: ở góc bên phải vẫn còn một vết nhoè nơi một giọt nước mắt của cô rơi xuống. Nhưng trên dòng chữ nơi người ta đáng lẽ đọc được tên loại cây trên cánh đồng cỏ, tâm tư vương vấn về các nụ hoa vàng chói đã khiến các ngón tay cô gõ những phím chữ kỳ lạ.

Chen giữa hai món bắp cải và ớt xanh nhồi thịt là món:

“WALTER YÊU DẤU TRỘN TRỨNG LUỘC”.

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2009

"Đêm xuống, phơn phớt tím và chưa chi đã mờ sương. Những làn sáng mơ hồ màu hoa cà và xanh lục lần lữa ở phía bên kia tháp chuông nhà thờ. Con đường leo dốc, dày đặc bóng tối, tiếng lục lạc cùng với nùi cỏ, và tiếng hát, lẫn nỗi mỏi mê ham muốn.

Thình lình một người đàn ông vận toàn đen, đội chiếc mũ lưỡi trai và cầm một chiếc dùi nhọn, khuôn mặt khó coi hiện ra, thấp thoáng đỏ hồng theo đốm thuốc. Từ trong một túp lều lẹp xẹp lẩn vào giữa nhiều bao than lớn bước ra, hướng về phía chúng tôi.

- Có gì khai báo không?
- Ông cứ tự nhiên…..Có bướm trắng….

Gã lăm le chọc mũi dùi sắt vào chiếc thồ, tôi thì vô phương ngăn cản.

Tôi mở thồ ra: gã thấy không có gì. Và thức ăn lý tưởng được để cho đi thong thả, khỏi bị ô nhiễm, khỏi phải trả tiền thuế nhập cảnh…."

[La Rô và tôi - Juan Ramón Jiménez]


______________________
:)) how optimistic and humorous he is. such an artist!

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2009

"Cây táo nở hoa thì nó cứ nở hoa chứ, cần đếch gì biết đời tốt hay xấu. Con người cứ tưởng mình vĩ đại lắm, có thể ảnh hưởng đến muôn loài. Nhưng thực ra có cái gì thèm để ý đến việc con người ra sao đâu. Ngày qua ngày, dù có thằng nào con nào bi kịch cuộc đời thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến tự nhiên cả."

[duthudongnhatchimai]

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2009

"Thế giới mà chúng ta đang sống chẳng là gì ngoài một tấm gương, phản chiếu một thế giới khác bên kia bề mặt tráng bạc của nó, một vùng đất nơi thời gian chỉ là thứ nhỏ nhặt tầm thường và bị tước bỏ hết mọi quyền lực.

Mình luôn hy vọng sẽ tìm thấy cậu ở đó."

[Sally Gardner]

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2009

"Những hồi ức như vậy khiến người ta lạnh giá với tất cả chuyện thế gian. Vì những gì tốt đẹp nhất đã trôi qua."

[An Ni Bảo Bối]

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2009

"I've made you a wooden boat
Sail to the sea, my broken heart.."


[Z]

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2009

Nữ ma đầu của tôi.

Nữ ma đầu của tôi.

Đình Hòa.

Mẹ mất sớm nên tớ sống với bố. Hồi đó tớ ốm yếu hoài vì đau phổi. Bố tớ là nhân viên ngân hàng. Năm 11 tuổi, tớ theo bố lên Đà Lạt. Sáng đầu tiên đi học trường mới, tớ xỏ giày vải, mặc áo ấm, quàng cái khăn to xù quanh cổ, lảo đảo bước trên triền dốc đến trường. Một con nhỏ trùm áo liền mũ chạy sượt qua. Sáng cao nguyên giá rét. Tớ vừa thở khó nhọc vừa lê bước, đôi mắt kính phủ mờ hơi nước.

Đám bạn mới lạnh nhạt. Giờ ra chơi, đám con trai chạy đâm sầm vào tớ, hất tớ ngã văng ra sân. Cả bọn cười rộ. Đang mò mẫm tìm mắt kính, tớ bỗng nghe phía trên vang lên một giọng con gái: "Ê, sao tụi nó ăn hiếp mày vậy?" "Mình không biết đâu..." - Tớ rên rỉ. Một bàn tay mạnh mẽ tóm cổ áo tớ, lôi lên, trả lại kính. Chính là con bé mặc áo trùm liền mũ ban sáng. Đôi mắt lạnh lẽo hơi nheo lại: "Đừng như mèo ướt nữa. Có nhỏ Sa đây, khỏi đứa nào dám đụng tới mày!".

Ít lâu sau, tớ hiểu Sa không khoác lác. Dù là con gái, nó không ngại lao vào các cuộc chiến đấu. Dũng mãnh và lì lợm, nó luôn giành phần thắng. Vài đứa gọi lén Sa là... nữ ma đầu!

Trong giờ, khi tớ đọc bài, nếu đứa nào cả gan cười vì giọng tớ lạ tai, tức khắc bị Sa dùng dây chun bắn đạn giấy. Một đứa gọi tớ là "bốn mắt", liền bị Sa thụi vài quả vào bụng.

- Tại sao chúng nó không ưa hai đứa mình vậy? - Tớ rầu rĩ.

Sa tỉnh rụi:

- Vì bố mày làm ngân hàng. Chúng nó nghĩ chắc nhà mày giàu lắm. Mày đi học, khăn áo lùm xùm trông thấy ghét. Ở đây ai cũng nghèo mà. Còn tao không để ai ăn hiếp mình, nên cũng bị ghét nốt.

Tôi hít một hơi dài, nín thinh. Trên đoạn đường dốc về nhà, Sa bước phăm phăm. Có hôm tớ mệt quá, ngồi trên gốc cây gãy, thở hổn hển. Nó lấy khuỷu tay thúc vào lưng tớ, cộc cằn: "Sao yếu quá vậy!". Tớ loạng choạng thêm vài bước rồi ngã vật ra, lăn lông lốc trên triền dốc. Nhanh thoăn thoắt, Sa xốc tớ lên lưng, hì hụi cõng về ngôi nhà trên đồi. Nó mở ổ khóa bằng một cái căm xe đạp bẻ cong. Loay hoay một lúc, nó đã nấu nước nóng cho tớ uống thuốc.

- Tủ thuốc nhà mày đầy nhóc - Sa tò mò - Mày bị bịnh gì vậy, Hòa?

- À, mình bị đau phổi - Tớ nói khẽ - Nhưng Sa đừng nói ai biết bí mật này nha!

- Không đâu! - Sa kêu lên. Đột ngột nó kéo tay áo, để lộ vết sẹo dài - Tao cũng có bí mật cho mình mày biết. Hồi đó tao ăn trộm trái cây trong chợ, bị rượt, té thành sẹo đó.

- Ăn trộm à? - Tớ thảng thốt.

- Hồi nhỏ thôi. Giờ hết rồi. Tao là dân chợ mà! - Sa khịt mũi.

Một điều gì mơ hồ chen vào giữa tớ và Sa. Dần dần, tớ tìm cách kết thân vài thằng bạn cùng lớp. Một đứa ra điều kiện: "Cậu phải nghỉ chơi nhỏ Sa trước!". Tớ nghĩ rất lung. Hôm ấy, chạy qua chỗ tớ đứng, Sa dừng lại, chìa ra một mẩu khoai nướng. Tớ lắc đầu.

- Sao vậy? - Sa nheo mắt, hỏi luôn.

- Vì bạn không tốt. - Tớ lùi lại, cảm nhận tia nhìn thôi thúc của mấy đứa bạn mới.

- Bằng chứng đâu? - Giọng Sa khàn khàn.

- Vết sẹo trên tay bạn ấy! - Tớ lí nhí. Tụi bạn cười rồ lên.

Sa không nhìn tớ nữa. Cái niềm chơi với tụi mới rồi phai nhạt. Đôi lúc, tớ nghĩ Sa giống như ngọn lửa nóng đáng ngại, nhưng đã che chở sưởi ấm tớ những ngày lạnh giá đầu tiên trên cao nguyên, chẳng kể tớ là ai. Một hôm, tách khỏi đám bạn, tớ đứng chờ Sa trước cổng trường, để nói: "Cho mình xin lỗi. Tụi mình lại bạn thân, được không?". sa bước đi, như không nghe gì. Chợt nó ngoảnh lại, nhìn thẳng vào tớ: "Có những thứ làm mất rồi không lấy lại được đâu!". Tôi đã đánh mất nữ ma đầu của tôi vĩnh viễn.

Có một dòng sông đã qua đời.

Có một dòng sông đã qua đời.

Trịnh Công Sơn

1 - Mười năm xưa đứng bên bờ dậu
Ðường xanh hoa muối bay rì rào
Có người lòng như khăn mới thêu
Mười năm sau áo bay đường chiều
Bàn chân trong phố xa lạ nhiều
Có người lòng như nắng qua đèo.

Tóc người - dòng sông xưa ấy đã phai
đã lênh đênh biển khơi
Có lần bàn chân qua phố thấy người

sóng lao xao bờ tôi.

2 - Mười năm chân bước trên đường dài
Gặp nhau không nói không nụ cười
Chút tình dường như hiu hắt bay
Mười năm khi phố khi vùng đồi
Nhìn nhau ôi cũng như mọi người
Có một dòng sông đã qua đời.

Chủ Nhật, 16 tháng 8, 2009

"Có những ngôi sao cách chúng ta cả triệu năm ánh sáng. Khi ánh sáng le lói của chúng truyền được tới Trái Đất xa xôi này, những ngôi sao đó có lẽ đã không còn nữa. Cuộc đời một con người, thậm chí sự tồn vong của một xã hội cũng vậy. Hàng trăm năm sau, còn gì quan trọng nữa?"

[Akino Matsuri]

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2009

La Rô và tôi (trích)

"La Rô là một con lừa nhỏ, hiền, có lông tơ, thân hình óng mượt, làm cho ta tưởng thân nó bằng bông gòn, không xương. Riêng đôi mắt, hai miếng gương hạt huyền, như hai con ốc bằng thủy tinh đen.

Nếu tôi thả lọng cho nó, nó thả bộ tới đồng cỏ và đưa chiếc mõm hâm hấp lướt nhẹ trên những đóa hoa nhỏ màu hồng, vàng hay xanh biếc…

Nếu tôi gọi khẽ: "La Rô", nó tiến lại phía tôi bằng bước chân lóc cóc nhỏ nhẹ reo vui như tiếng cười, như một thứ nhạc ngựa lý tưởng nào không hiểu…

Tôi cho nó cái gì, nó ăn cái đó. Nó thèm ăn quýt, nho xạ, trái sung màu tím nhạt có giọt mật thủy tinh nhỏ xíu.

Nó đằm thắm dịu dàng như đứa bé, như bé gái…; nhưng nó rắn rỏi và khô khan, ở bên trong như hòn đá. Khi nào ngày chủ nhật, tôi với nó đi qua mấy con hẻm cuối cùng trong làng, bọn người thôn dã, chậm chạp, đỏng đảnh, dừng bước lại nhìn nó:

"Thân hình bằng thép, không bằng…"

Bằng thép, thật đấy. Bằng thép pha với chất bạc của cung trăng."

[La Rô và tôi - Juan Ramón Jiménez]

Mãi mãi đứng về phe trứng.

Mãi mãi đứng về phe trứng.

Bài diễn văn của nhà văn Haruki Murakami nhân dịp nhận giải Jerusalem tại Israel (15/2/2009) 

Bản dịch: khuyết danh.

Hôm nay tôi đến Jerusalem với tư cách là một nhà tiểu thuyết, tức là với tư cách là một người làm nghề nói dối. Dĩ nhiên không chỉ nhà tiểu thuyết mới nói dối thôi. Nhà chính trị cũng làm chuyện này, như chúng ta đều biết vậy. Nhà ngoài giao và quân nhân cũng nói dối theo kiểu của họ. Còn người bán xe cũ, hàng thịt và doanh nhân kiến trúc cũng vậy. Nhưng lời nói dối của nhà tiểu thuyết khác với những người khác, tại vì chẳng có ai phê bình nhà tiểu thuyết nói dối là hành vi không đạo đức. Thậm chí, lời nói dối của ông ấy càng hay, càng lớn, cách tạo ra lời dối gian càng độc đáo, ông ấy càng có thể được khen ngợi bởi công chúng và các nhà phê bình. Tại sao vậy?

 Câu trả lời của tôi là như sau: thông qua kể lại lời dối gian tinh xảo, tức là thông qua tạo ra một câu chuyện hư cấu nhưng lại trông như thật, nhà tiểu thuyết có thể mang cái thật đến một nơi mới, và cho nó một quan niệm mới. Trong phần lớn các trường hợp, gần như không có khả năng nào hiểu được và miêu tả được một sự thật một cách chính xắc với hình dạng nguyên sơ. Cho nên chúng tôi dụ sự thật ra khỏi cái hang ẩn nấp của nó, di chuyển nó vào nơi hư cấu, và thay thế nó bằng hình dạng hư câu nhằm tóm được cái đuôi của nó. Song, để đạt được mục đích này, chúng ta phải biết rõ chúng ta đang đứng ở chỗ nào của sự thật. Tạo ra lời dối gian hay, đó là một năng khiếu quan trọng. 

 Nhưng hôm nay tôi không muốn nói dối. Tôi sẽ cố gắng trung thực. Trong năm có mấy ngày tôi không nói dối, hôm nay tình cờ là một trong những ngày đó. Cho nên cho tôi nói với các bạn một sự thật. Nhiều người đã đề nghị tôi không đến đây để lãnh giải Jerusalem. Thậm chí có người cảnh cáo tôi rằng, nếu tôi đến, họ sẽ lên kế hoạch tẩy chay sách của tôi. Nguyên nhân dẫn đến chuyện này dĩ nhiên là cuộc chiến đang hoành hành ở dải Gaza. Theo thông tin từ Liên Hiệp Quốc, hơn một nghìn người đã thiệt mạng trong thành Gaza đang bị phong toả, trong đó không ít người là công dân vô tội - trẻ em và người già. 

 Sau khi tôi nhận được thông cáo rằng tôi đã đoạt giải, tôi đã nhiều lần hỏi bản thân mình, tôi sang Isreal và nhận một giải văn học vào thời điểm này có thích đáng không? Liệu chuyến đi này sẽ tạo ra một ấn tượng khiến người ta nghĩ rằng tôi ủng hộ một phe trong cuộc xung đột và tôi đồng tình với chính sách thả ra lực lượng quân sự mang tính áp đảo của một nước nào đó? Dĩ nhiên tôi không muốn tạo ra ấn tượng này cho người ta. Tôi không đồng tình với bất cứ chiến tranh gì, tôi không ủng hộ bất cứ nước nào. Và tất nhiên tôi cũng không muốn thấy sách tôi bị tẩy chay. Nhưng cuối cùng, sau khi suy nghĩ kỹ lưỡng, tôi quyết định đến đây. Một trong những lý do khiến tôi làm ra quyết định này là: quá nhiều người đề nghị tôi không đến đây. Có lẽ như nhiều nhà tiểu thuyết khác, tôi có khuynh hướng hành động trái với những gì mà người ta muốn tôi làm. Nếu người ta bảo tôi rằng, nhất là khi họ cảnh cáo tôi, "đừng đến nơi đó", "đừng làm chuyện đó", thì tôi sẽ có ý muốn đến nơi đó và làm chuyện đó. Các bạn có lẽ sẽ nói rằng, đó là bản năng của tôi là một nhà tiểu thuyết. Nhà tiểu thuyết là kẻ dị thường. Họ không thể thật sự tin được bất cứ cái gì mà họ chưa tận mắt nhìn thấy và tận tay chạm vào. Đó là lý do tôi đang ở đây. Tôi thà đến đây, chứ không muốn đứng ở chỗ xa. Tôi thà đến đây để nhìn thấy, chứ không phải là không nhìn. Tôi thà phát biểu với các bạn, chứ không phải là không nói gì hết. Nhưng điều đó không có nghĩa là tôi đến đầy nhằm truyền đạt thông tin chính trị. Tất nhiên, làm ra phán đoán về sự đúng hay sai là một trong những chức trách quan trọng nhất của nhà tiểu thuyết. Song, cách truyền đạt những sự phán đoán này cho người khác là do mỗi nhà văn tự quyết định. Tôi thì muốn chuyển chúng thành câu chuyện, câu chuyện có khuynh hướng siêu hiện thực. Vì vậy, hôm nay tôi không định đứng trước mặt các bạn mà trực tiếp truyền đạt thông tin chính trị. Nhưng tôi xin phép đưa ra một thông tin rất riêng tư. Đó là thứ mà tôi luôn luôn để trong lòng khi viết tiểu thuyết. Tôi chưa bao giờ viết ra nó trên giấy và dán lên tường, mà tôi muốn khắc nó trên bức tường của trái tim tôi. Nó như dưới đây:

"Giữa một bức tường cứng rắn và một quả trứng đang đụng vào nó, tôi mãi mãi đứng về phe trứng." 

 Đúng vậy, bất cứ tường đúng đắn như thế nào, trứng sai lầm đến mức nào, tôi luôn luôn đứng về phe trứng. Những người khác phải quyết định cái gì là đúng, cái gì là sai. Thời gian hay lịch sử có lẽ sẽ quyết định được điều đó. Nếu có một nhà tiểu thuyết, bất cứ vì lý do gì mà các tác phẩm của ông ấy đều đứng về phe tường, vậy tác phẩm như vậy có giá trị gì? Ý nghĩa của ẩn dụ này là gì? Trong một số trường hợp, đó quá đơn giản và hiển nhiên. Máy bay ném bom, xe tang, tên lửa và đạn photpho trắng là bức tường cứng rắn đó. Trứng là những dân thường vô tội bị giày nát, bị thiêu đốt, bị bắn chết. Đây là một trong các ý nghĩa của ẩn dụ này. Nhưng đây không phải là tất cả. Nó còn có hàm ý sâu sắc hơn. Hãy nghĩ như vậy đi. Mỗi người chúng ta ít nhiều đều là một quả trứng. Mỗi người chúng ta đều là một linh hồn độc nhất vô nhị không thể thay thế được, được bao bọc trong một lớp vỏ mỏng manh. Tôi là vậy, tất cả mọi người các bạn cũng vậy. Mỗi người chúng ta ít nhiều đều phải đối mặt với một bức tường cứng rắn. Bức tường này có một cái tên: Chế độ (The System). Chế độ này nên bảo vệ chúng ta, nhưng có khi nó không bị bất cứ ai kiểm soát nữa, và nó bắt đầu giết hại chúng ta, và bắt chúng ta giết hại người khác -- một cách vô tình, hiệu quả và có hệ thống.

 Tôi chỉ có một lý do để viết tiểu thuyết, đó là làm sáng tỏ phẩm giá của linh hồn mỗi người và chiếu sáng nó. Câu chuyện nhằm vào mục đích báo động, khiến một chùm ánh sáng nhắm vào Chế độ, để đề phòng nó làm linh hồn chúng ta đắm đuối trong mạng lưới của nó mà hạ thấp giá trị của linh hồn. Tôi hoàn toàn tin rằng, nhiệm vụ của nhà tiểu thuyết là thông qua việc sáng tác câu chuyện mà cố gắng lọc ra tính duy nhất của linh hồn mỗi người -- câu chuyện về sự sống và cái chết, câu chuyện về tình yêu, câu chuyện khiến người đọc rùng mình hay cười vỡ bụng. Đó là lý do tại sao chúng ta mỗi ngày tạo ra những câu chuyện hư cấu với thái độ nghiêm túc.

 Cha tôi mất vào năm ngoái, thọ 90 tuổi. Cha là một giáo viên đã nghỉ hưu, kiêm nhà sư đạo phật. Lúc học nghiên cứu sinh, cha đi nghĩa vụ và được phái đi Trung Quốc tham chiến. Tôi là con sinh ra sau chiến tranh. Tôi thường thấy cha cầu nguyện thành tâm rất lâu trước bàn thờ trước buổi ăn sáng mỗi ngày. Có lần tôi hỏi cha tại sao làm như vậy. Cho cho tôi biết rằng, cha đang cầu nguyện cho những người đã chết vì chiến tranh. Cha nói, cha cầu nguyện cho tất cả mọi người, bất cứ là chiến hữu hay kẻ thù. Tôi nhìn lưng của cha đang quỳ trước bàn thờ, tôi cảm thấy hình như bóng của cái chết đang trùm lấp lên cha. 

 Cha tôi đã mất, cha đã đem đi ký ức của mình, ký ức mà tôi sẽ không bao giờ biết được. Nhưng mùi vị của cái chết lẩn trốn ở xung quanh cha thì đã ở lại trong ký ức tôi. Đó là một trong những thứ hiếm hoi mà tôi thừa kế từ cha tôi, và là một trong những thứ quan trọng nhất. 

 Hôm nay tôi chỉ muốn truyền đạt cho các bạn một thông tin. Mọi người chúng ta đều là con người, là cá nhân vượt qua quốc tịch, chủng tộc, tôn giáo, chúng ta đều là trứng mỏng manh và đang đối mặt với một bức tường cứng rắn có tên là "Chế độ". Chúng ta hiển nhiên không có hy vọng gì để chiến thắng. Bức tường này quá cao, quá mạnh, và quá lạnh. Giả sử chúng ta có chút hy vọng, thì nó chắc chắn đến từ lòng tin tưởng của chúng ta đối với tính duy nhất và tính không thể thay thế của linh hồn mình và của linh hồn người khác, và đến từ sự ấm áp do linh hồn chúng ta tụ tập tại một chỗ. Hãy tốn chút thời gian để ngẫm nghĩ điều này đi. Mỗi người chúng ta đều có một linh hôn chân thật và đang sống. Còn Chế độ thì không có. Chúng ta nhất định không thể cho Chế độ lợi dụng chúng ta. Chúng ta nhất định không thể cho Chế độ hoàn toàn trốn khỏi sự kiểm soát. Chế độ không tạo ra chúng ta, là chúng ta tạo ra Chế độ. Đây là những gì tôi muốn nói với các bạn. Tôi rất hân hạnh được đoạt giải Jerusalem. Tôi rất hân hạnh vì sách của tôi đang được đọc bởi những người đến từ nhiều nơi trên thế giới. Tôi cũng rất vui vì hôm nay có cơ hội diễn thuyết cho các bạn.

_____________ 

câu chốt của bài diễn văn đã khắc vào tâm khảm mình: "Giữa một bức tường cao kiên cố và một quả trứng đập vào đấy, tôi Mãi Mãi Đứng Về Phe Trứng."

có những tiếng nói tưởng chừng chìm vào vô vọng, nhưng không có nghĩa nó không đáng được cất lên. có những linh thể yếu ớt nhất, nhưng rồi vẫn tìm được nhau và có được hơi ấm. không ai bất tử, nhưng ý tưởng thì có, và đó là niềm an ủi, là sức mạnh, từ bên trong.

Chuyện của nước

Chuyện của nước

Thái Hà

Vì phải giải quyết một số rắc rối về giấy tờ nên nó vào học muộn hơn các bạn ba ngày. Lớp nó là lớp điểm của trường. Trày da tróc vảy lắm nó mới được có tên trong danh sách của lớp này qua một kì thi căng thẳng. Buổi đầu tiên đến lớp, mọi người dường như đã làm quen với nhau hết rồi. Khi cô dẫn nó vào, mấy đứa ngồi gần nhau chụm vào, nhìn nó, xì xào và cười cười. Nhưng có vẻ gì đó lạ lắm…

Một học kì qua, nó cũng như bao đứa học sinh khác, cũng làm quen, cũng lao đầu vào học, cũng tán phét khi có thể. Thế mà cả lớp chẳng ai đối xử với nó như với một đứa bạn bình thường. Xăm xoi, ngấm nguýt, thậm chí có những cái bĩu môi khi nó đi ngang qua. Mãi rồi nó mới biết thì ra mọi người nghĩ nó là cái đứa phải xin xỏ, chạy chọt vào lớp này. Đơn giản là do nó đã vào lớp muộn ba ngày.

Chưa biết lí do thì nó trăn trở, khổ sở lắm. Nhưng biết rồi thì nó thấy hẫng. Và ức nữa. Thời gian đầu, nó cũng cố gắng để chứng tỏ khả năng của mình, để xóa hết mọi sự hiểu lầm. Nhưng về sau, nó như bị “nhờn” thuốc. Với nó, những lời nói móc, chê bai, những lời xì xào, ngấm nguýt cũng chẳng có nghĩa lí gì. Càng giục nó làm nhanh, nó lại càng cố tình rềnh ràng. Càng cấm đoán nó, nó lại càng cố làm cho kì được. Mọi người bảo nó học chỉ vì điểm, đã thế nó lại càng lao đầu vào học, học ngày học đêm. Người ta nói có “vênh”, ừ thì “vênh”, khiêm tốn thì khó chứ “vênh” thì dễ ợt. Nó tập một tuần là làm được ngay. Càng ngày nó càng vênh tợn.

Bây giờ thì nó còn được gắn thêm tính “trơ”. Nó trơ thì cũng trơ thật, nhưng trơ không có nghĩa là nó không buồn. Giờ ra chơi, nó hay trèo tường vào khu vườn trường đã bỏ hoang từ lâu. Tường kín vây quanh, cây cối lại rậm rạp, chẳng sợ ai dòm ngó, nó thường chui vào một góc và … khóc. Chẳng hiểu từ bao giờ nó học được cách khóc lạ thế. Không nghẹn ngào, không sụt sịt, nước mắt cứ thế chảy ra, lăn dài trên má. Hình như không phải nó đang khóc mà chỉ là nước mắt đầy quá mà tràn ra thôi. Được một lát là nó lại trèo tường ra, lại vào lớp, lại “vênh” như chưa có chuyện gì xảy ra.

Cuối năm, cô giáo chủ nhiệm giao cho nó chức tổ trưởng, mặc sự phản đối của cả lớp. Thế là nó làm tổ trưởng, không một chút hồi hộp hay hào hứng. Công việc tổ trưởng cũng khá đơn giản. Hàng ngày nó chỉ phải kiểm tra bài tập, đánh dấu những ai vi phạm kỷ luật.

Nó là một tổ trưởng khá gương mẫu và nghiêm khắc. Vì thế, cô giáo luôn xếp những thằng con trai nghịch ngợm vào tổ nó. Trong đó có Hoàng. Hoàng luôn là người đầu têu ra mọi trò vui của lớp. Thiếu Hoàng một ngày, cả lớp xôn xao, còn nó thì khác. Nó có nghỉ học cả tuần chắc cũng chưa ai hỏi han đến nửa lời. Hoàng khá thông minh nhưng học hành lại quá lãng tử. Hôm ấy, cô giao bài tập tiếng Anh đặt câu với cặp quan hệ từ “tuy…nhưng”. Theo lệ thường, nó kiểm tra bài của Hoàng. Lần này Hoàng làm đầy đủ, thật lạ. “Tuy ông Hoàng đã già nhưng ông Hoàng vẫn đẹp trai”. Nó phá lên cười, chưa bao giờ nó thoải mái như thế. Đã lâu rồi, nó luôn cố giữ cái khuôn mặt thản nhiên, lạnh lùng và vô cảm. Hình như suýt nữa nó quên mất cách cười. Mọi người dồn ánh mắt về phía nó. Có thể lát nữa, bọn con gái lại có thêm đề tài để đưa chuyện nhưng nó mặc kệ.

Nôen, lần đầu tiên trong đời nó nhận được một món quà. Tan học, Hoàng chạy theo và đặt vào tay nó một hộp quà kèm lời chúc Giáng Sinh vui vẻ. Sững sờ, nó chẳng kịp nói lời cảm ơn. Nhưng nó vui lắm. Một ai khác có thể cũng vui nhưng chẳng vui như nó khi nhận một món quà. Tại sao à? Bạn đã bao giờ chịu cảm giác lạc lõng khi mọi người cùng nhau vui đùa còn mình thì lủi thủi một góc chưa? Bạn đã bao giờ có cảm giác tủi thân khi mình nói bất cứ điều gì, làm bất cứ việc gì đều bị phản đối chưa? Nó thì có đấy. Hoàng đã cho nó cảm giác được sẻ chia từ một người bạn khi một mình nó đang phải ngồi trên chiếc bập bênh mà bên kia là cả bốn mươi ba con người.

Cô chuyển chỗ cho Hoàng xuống ngồi cạnh nó. Nó vui vui nhưng vẫn tỏ ra thật bình thường. Hoàng dạo này chăm chỉ làm bài tập hơn, và cũng ít ra khỏi chỗ hơn. Hai đứa thỉnh thoảng trao đổi bài, nói chuyện vu vơ và chơi cờ carô. Nó rất thích được giảng bài cho Hoàng, không phải vì nó được lên lớp người khác mà bởi vì Hoàng lúc ấy trông rất hiền, ngô ngố khác hẳn với Hoàng của mọi ngày. Hoàng thường sửa giúp nó cái bút bị tắc mực, nhắc nó cái mũ để quên dưới ngăn bàn. Nó rất thích cái cách sửa bút của Hoàng, chỉ cần mài mài đầu bút lên tóc là mực chảy đều ngay. Lần nào gội đầu nó cũng thấy bong bóng dầu gội nhuộm màu xanh nhàn nhạt, hay hay, lâu lắm rồi nó không vào vườn trường nữa.

Ngày 8/3, nó bị sởi, phải nằm bẹp ở nhà. Lúc này ở lớp chắc bọn con trai đang lăng xăng thổi bóng, kê bàn ghế. Bọn con gái thì tha hồ nhận hoa, nghe ca nhạc cây nhà lá vườn và tận hưởng triệt để sự galăng đột xuất của bọn con trai. Giá mà nó được đến lớp bây giờ nhỉ? A, mà nó đến lớp lúc này để làm gì cơ chứ. Nó chẳng bao giờ nhận được một bông hoa nào, nếu có thì chỉ là hoa phát chẩn. Nó cũng không muốn thấy bộ mặt ỉu xìu, miễn cưỡng của đứa con trai nào xấu số vì phải tặng hoa nó. Ở nhà đâm ra lại hay.

Chợt nó nghe thấy tiếng chuông cửa. Mẹ nó chạy ra, hé cổng sắt. Tiếng bản lề gỉ “kin kít” nghe thật ghê tai: “Cháu chào bác ạ, bác ơi, cháu đến thăm bạn Giang. Bạn Giang đã đỡ chưa ạ?”. Giọng Hoàng. Chắc chắn! “Bạn Giang bị sởi, dễ lây lắm cháu ạ!” Ôi mẹ ơi! “Bác an tâm, hồi bé cháu đã bị sởi rồi ạ”. Phù! Nó không còn nhớ mẹ nó và Hoàng đã nói những gì. Nó chỉ nhớ trước khi về, mẹ dẫn Hoàng vào phòng nó. Chẳng hiểu sao lúc đó, nó lại kéo vội chăn lên, nhắm tịt mắt lại và giữ cho hơi thật đều đặn như thể nó đang ngủ li bì. Cho dù trái tim nó đang đập thình thịch còn hai tay tuy đã nắm chặt nhưng vẫn run run. Lúc Hoàng về rồi, hai má nó vẫn ran ran còn người nó vẫn nóng bừng lên.

Mấy hôm sau, nó khỏi ốm. Những hạt đỏ li ti trên mặt và tay chân nó đã lặn hết. Nó cố đạp đến trường thật nhanh, chưa bao giờ nó lại có cảm giác hào hứng khi đến lớp như thế. Ấy vậy mà hôm đó Hoàng không đi học. Nó không hề biết rằng trước đó Hoàng chưa bao giờ bị sởi.

Ngày chia tay cuối cấp, nó chẳng nói một câu nào. Đợi đến khi mọi người trong lớp về hết nó lại lén trèo vào vườn trường. Đã lâu rồi nó không vào đấy. Nó lại ngồi vào một góc và khóc. Có cái gì đó nghèn nghẹn ở cổ họng nó dần dâng lên rồi trào ra, vỡ ra thành tiếng nấc. Hai mắt nó cai xè rồi mờ dần đi, nước mắt cứ thế nhòe dần, nhòe dần. Cho dù nó cố mím chặt môi và không chớp mắt thì cũng không ngăn được tiếng nấc. Người nó run lên, lâu lắm rồi nó mới khóc như thế, khóc như bình thường. Kiểu khóc mà nó đã từng quên.

Có lần nó đã nghe kể câu chuyện của nước. Nước vốn là nước, lỏng và chẳng hề có hình dạng. Nhưng khi người ta đặt cốc nước vào tủ lạnh. Nước sẽ đông lại và đóng thành đá, chai lì và cứng chắc. Nhưng rồi, khi ta đặt đá vào môi trường ấm áp, đá sẽ lại tan chảy ra, trở về làm nước như ban đầu. Nó thích câu chuyện của nước bởi hình như nó cũng giống nước, hình như nó cũng từng trở thành đá lạnh và hình như nó đã lại trở về là nước. Nó cũng không chắc nữa. Dù sao nước vẫn chỉ là nước mà thôi.