Sơn trung vấn đáp
Lý Bạch
Vấn dư hà ý thê bích sơn,
Tiếu nhi bất đáp tâm tự nhàn.
Đào hoa lưu thủy diểu nhiên khứ,
Biệt hữu thiên địa tại nhân gian.
Hỏi sao lại vào nơi núi biếc,
Ta cười không đáp tâm tự nhàn.
Đào hoa theo nước trôi xa mãi,
Đất trời ta có giữa nhân gian.
Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2020
Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2020
Thương nhớ mười hai - Tự ngôn và Chương I
Thương nhớ mười hai
(Tự ngôn và Chương I)
Vũ Bằng
Bắt đầu viết cuốn sách này thì là nhớ. Viết đến câu cuối bài Tháng Chín thì là thương. Thương không biết bao nhiêu, nhớ không biết ngần nào người bạn chiếu chăn: NGUYỄN THỊ QUỲ.
Thành mến tặng Quỳ cuốn sách này để thay mấy lời ai điếu. - Vũ Bằng
TỰ NGÔN
Thoạt đầu ai cũng tưởng chẳng làm sao. Cùng là đất nước, đi đâu mà chẳng thế? Từ Bắc vào Trung, đâu đâu lại không có những con mắt nhìn vào những con mắt mà như gói ghém cả một trời thương; từ Trung vào Nam, chỗ nào mà lại chẳng có những miệng cười, không nói ra lời mà hàm súc biết bao duyên thắm?
Vậy mà không; lòng người xa nhà y như thể là khúc gỗ bị mối ăn, mục nát từ lúc nào không biết. Trông bề ngoài thì không có gì khác lạ, nhưng cầm một cánh hoa khẽ đập vào thử mà xem: tiếng gỗ kêu nghe mệt mỏi, u buồn, mà nếu gõ mạnh thêm chút nữa, ta sẽ thấy gỗ vỡ tan, để lộ ra những tảng mục lỗ chỗ như tổ ong, tiết ra một thứ bụi vàng hanh hao, nhạt nhẽo.
Con tim của người khách tương tư cố lý cũng đau ốm y như là gỗ mục.
Sài Gòn, Phú Lâm, Bình Lợi, Chợ Lớn, Lồ Ồ... vui quá, cứ uống rượu mạnh thế này, nghe con hát đàn vừa múa vũ vừa ca, lại cặp kè với gái hơ hớ như trăng mới mọc thế này, thì sao lại có thể rầu rĩ được? Ấy vậy mà một buổi chiều trở gió kia, ngồi cúi xuống lòng để hỏi chuyện tim mình, ta cảm như có hàng ngàn vạn con mọt nhỏ li ti vừa rung cánh o o vừa đục khoét con tim bệnh tật. Và tự nhiên ta có cảm giác rằng thân thể ta, không biết từ lúc nào, đã bị mối “xông” và đang đi đến chỗ mọt ruỗng, rã rời tan nát.
Một nỗi buồn se sắt xâm chiếm đầu óc ta. Buồn thì ngâm thơ:
Biệt ly ai kể xiết lời,
Vì hoa cách mặt cho người thương tâm.
Người đưa rượu, hỏi thăm Bành Trạch,
Kẻ say trăng tìm khách Đào, Chu;
Nào ai trang điểm màu thu,
Hoa vàng chén bạc tạc thù với ai?
Miền Dữu Lĩnh tin mai gắn bó,
Đỉnh Cô Sơn mối gió đợi chờ.
Muốn mang chén rượu, câu thơ,
Lạnh lùng trong tuyết, hững hờ dưới trăng...
Ngâm thơ lại càng buồn, mình chán nản không để đâu cho hết. Sự chán nản không tên tuổi, không lý do, ví có muốn nói ra với người ở cạnh cũng không thể được.
Tại sao lại buồn? Tại sao lại chán?
Không biết tại làm sao cả.
Người bạn mây nước, gặp gỡ ở phương trời hiểu sao được những u uẩn đó nên người xa nhà cũng chẳng buồn nói ra làm gì. Gió về đêm lạnh tê tê, nước đập vào bờ dào dạt và ở bến nước nào người ta cũng khổ. Thương nhau, muốn an ủi lẫn nhau, mà không dám nói, hay không biết nói ra thế nào. Người đẹp chỉ còn biết cúi đầu xuống thở dài, còn người đàn ông thì im lặng, đưa cặp mắt như mất thần nhìn vào bóng đêm mịt mù có tiếng dế kêu giun khóc. Cái buồn, cái chán cứ như thế mà kéo lê thê ra mãi.
Cho tới một ngày kia... đang ngồi trong một tiệm ăn hẻo lánh ở trên sông Tân Thuận, trận mưa đầu mùa trút nước xuống phố phường. Những người Bắc Việt ngồi ở những bàn ăn gần đó nhìn mưa mà thấy thẫn thờ, mà thấy bơ vơ, tưởng chừng như không thể chịu đựng nổi bầu không khí nặng nề lúc đó, bèn kiếm một câu gì để nói.
Một người bảo:
“Ở Bắc, có lẽ bây giờ cũng mưa đầu hè đấy nhỉ”.
Một người khác:
“Thế nhưng mưa ở Bắc, nó khác kia, bà ạ”.
Một người khác nữa:
“Cái gì cũng khác hết. Thôi, đừng nói nữa, tôi muốn khóc đây”.
Người bạn phương trời liếc nhìn ông bạn trai đứng cạnh: hai người im lặng chẳng nói, vì nói chẳng ra lời, nhưng cùng cảm thấy như có một thứ điện kỳ lạ truyền cảm đi khắp người.
Thì ra không cần nhiều: chỉ một câu nói rất tầm thường vào một buổi chiều mưa gió đìu hiu cũng gợi lên được những ấn tượng rầu rĩ trong một tấm lòng có mối xông.
Người ta nhớ nhà, nhớ cửa, nhớ những nét mặt thương yêu, nhớ những con đường đã đi về năm trước, nhớ người bạn chiếu chăn dắt tay nhau đi trên những con đường vắng vẻ ngào ngạt mùi hoa xoan còn thơm mát hơn cả hoa cau, hoa bưởi. Người ta nhớ heo may, giếng vàng; người ta nhớ cá mè, rau rút; người ta nhớ trăng bạc, chén vàng.
Nhớ quá, bất cứ cái gì của Hà Nội cũng nhớ, bất cứ cái gì của Bắc Việt cũng nhớ, nhớ từ cánh đồng lúa con gái mơn mởn nhớ đi, nhớ từ tiếng hát của người mẹ ru con buổi trưa hè mà nhớ lại; nhớ hoa sấu rụng đầu đường Hàng Trống, nhớ quả bàng ở Hải Hậu rụng xuống bờ sông đào, nhớ sen Linh Đường thơm ngào ngạt cả bầu trời mà nhớ lên, nhớ nhãn Hưng Yên, vải Vụ Bản, cá anh vũ Việt Trì, na Láng, bưởi Vạn Phước, cam Bố Hạ, đào Sa Pa, mà nhớ xuống.
Nhớ không biết bao nhiêu, nhớ bát canh rau sắng chùa Hương, nhớ khóm tiễn-xuân-la trồng ở bên giậu trúc, nhớ mưa bụi, vợ chồng nửa đêm thức giấc đi uống một ly rượu ấm ở cao lâu, nhớ những buổi trưa hè có ve sầu kêu rền rền, nhớ luôn cả những cô gái Thổ cưỡi ngựa thồ đi trong rừng có những cánh hoa đào rơi lả tả nơi vai áo...
Càng nhớ như vậy thì càng yêu Hà Nội biết bao nhiêu, lại càng say đắm Bắc Việt biết bao nhiêu!
Hà Nội! Bắc Việt của một ngày xa xưa ơi! Bây giờ liễu ở Hồ Gươm có còn xanh mươn mướt như hồi ta bước ra đi? Những chồi sơn trúc, thạch hương ở Nghi Tàm có còn chứa phong quang như cũ? Núi Nùng ra sao? Hồ Tây thế nào? Con đường Bách Thảo thơm nức mùi lan tây, hàng đêm, ta vẫn cùng đi với người vợ bé nhỏ, bồng con ở trên tay để đi đến thăm người bạn sống cô chích ở trong vườn “Bìm Bịp” bây giờ ra thế nào? Trên con đường Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, các đồn điền cam quýt ở hai bên bờ sông Thao vẫn còn tốt tươi như cũ và các cô con gái ngăm ngăm da nâu có còn nắm lấy tay các khách du mà ví von ca hát không cho về? Ở trước cửa chợ Đồng Xuân, có còn chăng những hàng nước chè tươi; ở chợ Hôm những hàng phở gánh bán cho khách ăn đêm; và ở trên khắp nẻo đường, những người đội thúng, cầm một chiếc đèn dầu ở tay, lặng lẽ đi trong đêm rao “giò giầy”?
Nhớ không biết chừng nào là nhớ, nhớ sao nhớ quá thế này! Thì ra cái người nhớ Hà Nội, nhớ Bắc Việt cũng như thể là chàng trai nhớ gái; bất cứ thấy ai cũng tưởng ngay đến người thương của mình và đem ra so sánh thì bao nhiêu người đẹp ở trước mắt đều kém người thương mình hết.
Ai bảo kẻ vắng mặt chịu thiệt thòi? Tôi thấy rằng càng vắng mặt bao nhiêu thì lại càng thương gấp bội; chỉ có kỷ niệm là đẹp thôi, chớ hiện tại bao giờ cũng kém phần tươi tốt.
Nhưng thương nhớ cách mấy đi nữa thì có níu quá khứ lại được đâu? Tại sao lại không chịu yên vui với hiện tại, tiếc nuối làm gì vô ích? Lịch sử không đứng yên một chỗ bao giờ.
Cái đã đi là cái đã mất. Đành vậy. Lấy hiện tại so sánh với quá khứ, e bị chủ quan mà có sự bất công.
Tôi cũng biết có sự bất công, khó tránh. Tôi yêu Hà Nội quá, tôi nhớ Bắc Việt nhiều nên bao nhiêu cái đẹp, cái hay ở trước mắt, tôi thấy mất cả ý nghĩa đi. Có lẽ đó là một sự bất công to lớn, nhưng yêu, bao giờ mà lại chẳng bất công như thế?
Tôi yêu mến luôn cả sự bất công đó và trong mười hai tháng với mười hai cuộc đổi thay của tiết trời, mười hai sự rung động uyển chuyển của năm tháng, của chim muông, của sắc đẹp, của hoa lá, của thương yêu, tình tứ, tôi cảm ơn sự bất công đã cho tôi nhìn thấy rõ lòng tôi yêu thương Hà Nội đến chừng nào, Hà Nội ạ!
Ngày xưa, con gái quan thừa tướng, ngồi ở trên lầu cao nghe tiếng hát anh lái đò mà mê nhưng vì không duyên kiếp nên hai người không lấy được nhau. Anh lái dong con đò ra khơi, đánh đắm đò mà chết rồi nhập hồn vào một cây bạch đàn. Quan thừa tướng thấy cây đẹp, sai đẵn về tiện thành bộ đồ trà tuyệt đẹp. Mỗi lần cô gái cầm chén trà lên uống thì lại thấy hình bóng anh lái đò hiện lên trong chén trà:
Không cầm lấy chén thì thôi,
Hồ cầm lấy chén lại thấy người hò khoan.
Bây giờ, người xa cách Bắc Việt lâu ngày cũng vậy: ăn một tô hủ tíu thì nhớ đến phở Bắc “chính cống” ăn vào một buổi sáng rét căm căm; trông thấy cua bể thì lại nhớ bát canh cua đồng nấu với rau rút và khoai sọ, gặp một ngày bão rớt thì lòng lại buồn rười rượi, nhớ đến thu sơ với gió may, hoa vàng. Trời tháng Ba, nhớ hội hè đình đám, con gái hát ví nghe thật là hay, đàn ông đánh vật xem mà sướng mắt; tháng Bảy, nhớ mưa Ngâu rả rích buồn như lòng người khuê phụ nhớ chồng; tháng Tám, cũng thưởng bánh Trung Thu, cũng cộ đèn, nhưng lại nhớ trăng Cổ Ngư và thèm cái cảnh tưng bừng nhộn nhịp ở Hàng Gai, Hàng Đào, Hàng Mã...; tháng Một nhớ đến gió ở Đọi Đệp lúc tản cư, mặc áo trấn thủ ngoài khoác varơ đi như muốn bay lên trời mà miệng vẫn không ngớt ngâm bài “Tây Tiến”; tháng Chạp nhớ những con đường ẩm ướt, nhớ mưa phùn rét căm căm, hai vợ chồng lên Đông Hưng Viên ăn một bát “tam xà đại hội” khói bốc lên nghi ngút.
Mỗi tháng lại có những cái đẹp não nùng riêng, những nỗi nhớ nhung riêng. Mỗi cảnh bày ra trước mắt mình lại nói lên những niềm thương yêu cũ, làm thế nào mà giữ mãi ở trong lòng cho được?
Tôi ghi lại “Thương nhớ Mười Hai” không nhằm mục đích gì cao rộng, chẳng qua chỉ là đánh dấu những ấn tượng hiện ra trong trí óc những buổi mây chiều gió sớm, “sầu biệt ly vơi sáng đầy chiều” thâu nhận được trong khi lạc bước trên những nẻo đường chật ních những người bận rộn bên cạnh những người ngoại kiều ăn mặc như phường chèo, nói “líu lô buồn nỗi khó nghe”!
Ới những người thiên lý tương tư! Nếu bất ngờ những dòng sau đây có lạc vào tay bạn, mà thấy nói được lên một mối cảm hoài của bạn vẫn chất chứa ở bên lòng, thế là kẻ viết bài này lấy làm mãn nguyện lắm rồi.
Đời mà có một người vui cái vui của mình, buồn cái buồn của mình chẳng là đủ rồi sao? Có tâm sự trong lòng, lặng nhìn nhau không nói mà cùng cảm biết, thế chẳng là đủ rồi sao?
Thôi, bây giờ mặc cho ngòi bút đưa đi, đến đâu hay đó...
******
THÁNG GIÊNG, MƠ VỀ TRĂNG NON RÉT NGỌT
Tự nhiên như thế: ai cũng chuộng mùa xuân. Mà tháng Giêng là tháng đầu của mùa xuân, người ta càng trìu mến, không có gì lạ hết. Ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió; ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con, ai cấm được cô gái còn son nhớ chồng thì mới hết được người mê luyến mùa xuân.
Ới ơi người em gái xõa tóc bên cửa sổ! Em yêu mùa xuân có phải vì nghe thấy rạo rực nhựa sống trong cành mai, gốc đào, chồi mận ở ngoài vườn? Chàng trai kia yêu mùa xuân, phải chăng là tại lúc đôi mùa giao tiễn nhau, chàng tưởng như nghe thấy đồi núi chuyển mình, sông hồ rung động trong cuộc đổi thay thường xuyên của cuộc đời? Mà người thiếu phụ nọ ở chân trời góc biển yêu mùa xuân có phải là vì đấy là mùa xanh lên hy vọng được trở về nơi bến đợi sông chờ để ngâm lại khúc bạc đầu với người ra đi chưa biết ngày nào trở lại?
Tôi yêu sông xanh, núi tím; tôi yêu đôi mày ai như trăng mới in ngần và tôi cũng xây mộng ước mơ, nhưng yêu nhất mùa xuân không phải là vì thế.
Mùa xuân của tôi - mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội - là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng...
Người yêu cảnh, vào những lúc trời đất mang mang như vậy, khoác một cái áo lông, ngậm một ống điếu, mở cửa đi ra ngoài tự nhiên thấy một cái thú giang hồ êm ái như nhung và không cần uống rượu mạnh cũng nghe như lòng mình say sưa một cái gì đó - có lẽ là sự sống!
Anh có thể đạp cỏ trên Hồ Gươm, đợi đến sâm sẩm tối ra ngồi ở Thủy Tạ nhìn các cô gái đẹp như tiên mặc áo nhung, áo len trăm màu ngàn sắc, in bóng hình xuống đáy nước lung linh; anh có thể vào một nhà hát thưởng vài khẩu trống, “mở quả mứt” phong bao cho các chị em, rồi uống với mỗi em một ly rượu “lấy may”; anh có thể đi vào một ngôi chùa khói nhang nghi ngút, đưa mắt nhìn xem có cô nào thực xinh thì quỳ ngay xuống bên cạnh cầu Trời khấn Phật cho cô càng ngày càng đẹp và trong năm lấy được một người chồng xứng ý như... anh vậy.
Ấy đấy, cái mùa xuân thần thánh của tôi nó làm cho người ta muốn phát điên lên như thế đấy. Ngồi yên không chịu được. Nhựa sống ở trong người căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai, như mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu được, phải trỗi ra thành những cái lá nhỏ ti ti giơ tay vẫy những cặp uyên ương đứng cạnh.
Cùng với mùa xuân trở lại, tim người ta dường như cũng trẻ hơn ra, và đập mạnh hơn trong những ngày đông tháng giá. Lúc ấy, đường sá không còn lầy lội nữa mà cái rét ngọt ngào, chớ không còn tê buốt căm căm nữa.
Y như những con vật nằm thu mình một nơi trốn rét thấy nắng ấm trở về thì lại bò ra để nhảy nhót kiếm ăn, anh cũng “sống” lại và thèm khát yêu thương thực sự. Ra ngoài trời, thấy ai cũng muốn yêu thương, về đến nhà lại cũng thấy yêu thương nữa.
Nhang trầm, đèn nến, và nhất là bầu không khí gia đình đoàn tụ êm đềm, trên kính dưới nhường, trước những bàn thờ Phật, bàn thờ thánh, bàn thờ tổ tiên làm cho lòng anh ấm lạ ấm lùng, tuy miệng chẳng nói ra nhưng trong lòng thì cảm như có không biết bao nhiêu là hoa mới nở, bướm ra ràng mở hội liên hoan.
Đẹp quá đi, mùa xuân ơi - mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến. Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng Giêng, Tết hết mà chưa hết hẳn, đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh như cuối đông, đầu giêng, nhưng trái lại lại nức một mùi hương man mác.
Thường thường, vào khoảng đó trời đã hết nồm, mưa xuân bắt đầu thay thế cho mưa phùn, không còn làm cho nền trời đùng đục như màu pha lê mờ. Sáng dậy, nằm dài nhìn ra cửa sổ thấy những vệt xanh tươi hiện ở trên trời, mình cảm thấy rạo rực một niềm vui sáng sủa. Trên giàn hoa lý, vài con ong siêng năng đã bay đi kiếm nhị hoa. Chỉ độ tám chín giờ sáng, trên nền trời trong trong có những làn sáng hồng hồng rung động như cánh con ve sầu mới lột.
Ấy là lúc thịt mỡ dưa hành đã hết, người ta bắt đầu trở về bữa cơm giản dị có cà om với thịt thăn điểm những lá tía tô thái nhỏ hay bát canh trứng cua vắt chanh ăn mát như quạt vào lòng. Cánh màn điều treo ở trước bàn thờ ông vải đã hạ xuống từ hôm “hóa vàng” và các trò vui ngày Tết cũng tạm thời kết thúc để nhường chỗ cho cuộc sống êm đềm thường nhật.
Các con lại đi học cả rồi. Dưới nhà, người làm ngồi nhắc lại chuyện Tết với nhau “tiền mở hàng được tất cả mười hai đồng” và “đánh tam cúc thua mất ba đồng mốt”. Một cảnh thanh bình thú vị diễn ra thấp thoáng ở ngoài vườn, sân gác.
Bảo là nóng ư? Không. Bảo là rét ư? Không. Thời tiết lúc đó kỳ lạ lắm: rét vẫn còn vương trên ngọn xoan đào, nhưng đất ở ngoài vườn khô ráo, sạch bóng, mịn màng như thể đất rừng Đà Lạt sau một đêm sương, và, qua những kẽ lá chòm cây, có những bông hoa nắng rung rinh trong bể nước.
Đêm xanh biêng biếc, tuy có mưa rây, nhưng nhìn lên thấy rõ từng cánh sếu bay. Về khuya, trời vẫn rét một cách tình tứ nên thơ: mặc dầu vẫn phải đắp chăn bông, nhưng ban ngày không cần phải mặc áo ấm như hồi cuối chạp.
Người vợ bắt đầu thu hết những nệm thêu trải ở sập chân quỳ và gối gấm trên ghế trắc “mua từ bên Tàu về” để đem ra phơi dưới nắng xuân, trên một cái chiếu màu khô nỏ. Mi môn, quần màn, với quần áo Tết của vợ chồng và các con sẽ được phơi như thế chừng ba nắng để rồi đem cất vào trong tủ có trải sẵn rễ “hương bài” để cho quần áo thơm ngát và khỏi “nhậy”.
Ấy đấy, thương người đàn bà Bắc như thế đấy. Sạch cứ như ly như lau, cẩn thận từng ly từng tí. Và càng thương hơn nữa là khi ta thấy người đàn bà chậm rãi vuốt ve từng cái tà áo, lồng nhỏ nhẹ từng cái khuyết vào cái khuy rồi xếp vuông vức áo nọ lên quần kia, như thể sợ động mạnh thì quần áo sẽ không còn vẹn tuyết trinh, vì nhàu nếp lụa.
Giản dị thay là cái đẹp của ngày xuân lúc đó! Ở trong nhà, cái đẹp không còn phải tạo bằng đèn nến sáng trưng, bằng mi môn quần màn rực rỡ, bằng hoa lá tưng bừng trong khói hương trầm nghi ngút, mà ở ngoài đường người ta cũng không còn bị chóa mắt hay say lòng vì những áo nhung trơn mướt, những giày kinh xòe cánh phượng bay hay những dải khăn “san” khéo biết lựa màu bay đùa trước gió như thể tơ trời vậy.
Không. Cái đẹp lúc này là cái đẹp thành thực, hồn nhiên, mộc mạc, cũng như người đàn bà, con gái đẹp không phải vì quần áo, vì son phấn, mà chính vì cái chất đẹp ở trong người tiết ra.
Từ mùa đông qua Tết cho đến hôm nay, quần áo giấu mất hết cả thân hình đều đặn, núng nính, nõn nường của người vợ bé nhỏ có đôi má đỏ hây hây mùi cốm giót. Hôm nay, chợt thấy đôi mắt trong hơn, làn da thắm hơn và đôi vai màu ngà hằn qua tấm áo lụa văn, người chồng cảm thấy như mới lại được gặp một cái gì đã cách biệt lâu lắm và tuy ngồi cách xa nhau mà tưởng như vợ mình thơm ngát mùi hoa cau.
Đẹp như thế mới là đẹp, yêu đến thế mới là yêu.
Cái đẹp của ngày Tết phủ áo nhung tím, quàng khăn lụa màu, dận lên giày nhung đen, đâu có thể so sánh được?
Ai cũng có thể bị huyễn hoặc vì vàng son, ai cũng có thể mê say nhất thời những cái lông nheo giả uốn cong lên như đào chiếu bóng, những cái vú nhân tạo bằng cao su bơm, những cái điệu bộ nhân tạo đi vắt va vắt vẻo, những mái tóc “mượn” của các mỹ viện, những mùi thơm vương giả... Nhưng rồi có một lúc người xế bóng sẽ thấy rằng cái đẹp của quê hương ta là cái đẹp của cỏ biếc, xoan đào, hương thơm của ta là hương thơm của cau xanh, lúa vàng chứ đâu phải cái đẹp của con mắt xếch vẽ xanh, của tấm mini mời mọc “tí ti thôi nhé”, của đôi môi tô theo kiểu Mỹ trông như môi người chết trôi; mà cũng đâu có phải là hương thơm của dầu thơm “Santalia”, “Kiss Me” hòa với hơi người tạo thành một mùi thú vật đang kỳ “con nước”.
Ở đây, từ tháng Một, trời nắng chói chang, làm cho đôi mắt mờ, đầu nhức, lúc nào người đàn ông cũng được “rửa mắt” bằng những cái vai đẹp hớ hênh, những cái lườn hây hây, hồng hồng, hay những cặp đùi mờ mờ nửa trắng, nửa đen, thành thử ra... hết, không còn có gì mà “cảm” nữa, ví có gió xuân thì cũng khó mà làm cho hồ ao chuyển được mình.
Chao ôi, mệt quá, người đàn ông mệt quá! Đã mệt vì kiếm tiền, lại mệt vì trác táng, mệt vì nịnh bợ, ví chăng có thấy gió xuân lay động cành hoa, long lanh cặp mắt của người vợ nao nức niềm trăng ý nhạc thì cũng đành phải uống thêm vài ly rượu ngâm hổ cốt, tắc kè và rất nhiều khởi tử... Yêu thương nhau không còn là một nghệ thuật, không còn là làm thơ có bằng, có trắc, có vần, có điệu.
Lòng đã nóng như thiêu, nhà lại thấp, bức cứ điên lên. Có tiền, lắp cái máy lạnh cho đời thêm tươi một chút, nhưng dù thế nào đi nữa thì thơ sáng tác cũng chỉ là một thứ thơ tự do, thơ văn xuôi, không có vần có điệu, ví đôi khi có vần có điệu thì cũng là cái thứ vần thứ điệu lem nhem, lỉnh kỉnh. Nào đâu những buổi hoàng hôn lành lạnh, quấn quýt tơ hồng; nào đâu những đêm trăng êm mướt như tơ, mái tóc ai xõa trên gối đầy những bông sao rụng; nào đâu những tiếng tiêu, tiếng nhạc của trời tình bát ngát hoa hương, mến thương nhịp thở ái ân thường vẫn thấy viết ở trên những báo Xuân, sách Tết?
Trên các nẻo đường nắng chói chang ở đất này, người ta chỉ thấy những người đi vội vã, chán chường mệt mỏi. Dậy từ mờ sáng mà tưởng như đã hết ngày rồi. Xới vội một bát cơm ra đĩa với khô, vừa ăn vừa lo công việc. Con cái muốn làm gì, tùy ý, bố mẹ còn bận đi lo tiền.
Một cô xách “bóp” da cừu dừng lại đường Chợ Cũ ăn mấy cái bì cuốn “nhắm” với một ly đá lạnh; một ông, nhân ngày xuân tươi đẹp, “bao” vợ và con, mua ba trái dưa hấu bổ ra ăn cả nhà, mặt mũi “tèm lem”; lại một bà, thương chồng con vất vả quanh năm, bưng về cả một liễn càri Chà mở tiệc thưởng xuân ăn với rất nhiều bún kèm thêm vài ổ bánh mì dài như cây đòn gánh.
Ăn như thế mà khát thì uống một ly chanh muối hay chén đậu đỏ bỏ rất nhiều nước đá; ai muốn mát ruột mà lành thì uống một chén “sinh sâm” hoặc một ly sữa đậu nành, còn các cô gái dậy thì, ăn thịt nhiều xót ruột, mua một vài đồng “tầm ruột” hay “cốc” chấm mắm nêm ớt, ngon đáo để, giòn rau ráu.
Tháng Giêng ở miền Nam ngà ngọc có một vẻ đẹp “ly kỳ” làm cho người ta háo hức, khiến cho cổ họng khô teo, muốn uống nước cả ngày, uống rồi lại khát, khát rồi lại uống, mồ hôi cứ vã ra như thể là mình “thoát dương”.
Nhưng mà sướng!
Sướng vì nhà nào, dù kiết xơ kiết xác đến đâu cũng có một tủ lạnh để vài ba chai nước lọc, một cái rađiô, một cái tivi hò hét những vũ điệu điên cuồng khiến cho ông via, bà cụ, chàng trai, cô gái đều rên rú cả lên muốn “vặn mình xà” nhảy vũ điệu “cha cha cha” rồi thoát y vũ như trong “sô” Trương Minh Giảng. Tươi quá, trẻ quá. Quả là một giai đoạn “đang lên”. Nhưng tại làm sao tất cả những sinh khí tươi trẻ, đang lên đó không làm khuây khỏa được lòng người sầu xứ luôn luôn mong cho đất nước tiến triển vượt bực, mà trái lại lại làm cho y rầu rĩ hơn, nhớ thương hơn những tháng Giêng Bắc Việt đã qua rồi?
Ờ, cứ vào dạo này đây, ở Bắc người ta đi lễ vui đáo để. Chiều chiều, đứng ở nhà Khai Trí Tiến Đức nhìn lên cầu Thê Húc sơn đỏ ở giữa đám cây xanh đông đảo những người đi lễ trong ngôi đền Ngọc Sơn trắng toát, anh cảm thấy có những lúc nước lộn lên trời, trời rơi xuống đất khi nhìn những bóng người hiện ra huyền ảo dưới làn nước xanh mơ.
Qua Ngõ Hồ là đền Hàng Trống có tiếng là “hương ngát của trời”; quá ra đến Hàng Hài là đền Quan Phước, ai mất người, mất của đến cầu xin thì thấy; từ đó ngược lên, ra lối Tòa Án là chùa Quán Sứ - ờ, chắc bây giờ mấy cây thông bách tán ở trước chùa đã lớn lắm rồi đấy nhỉ! Thế rồi là chùa Dâu, chùa Kim Cổ, đền Quan Thánh, chùa Trấn Quốc thờ ông thánh đồng đen, chùa Bà Đá, chùa Liên... Trời! Biết bao là chùa đẹp, biết bao nhiêu cảnh nên thơ, biết bao nhiêu người đi lễ cầu con, cầu của!
Trước đây, tháng Giêng ở Bắc là tháng người ta chỉ dành ra để trước là lễ Phật, sau là lễ tiên tổ ông bà. Người sống cảm thông với người chết trong tháng ấy, lấy tâm tư mà nói chuyện với nhau, lấy đạo lý mà khuyên bảo, dạy dỗ nhau cách nào cho vẹn đạo làm người, chớ có thấy giàu mà ham, chớ vì sang mà bỏ nghĩa, chớ vì cầu an mà làm tôi mọi cho người ngoài.
Từ xưa, Bắc Việt có bao giờ là một miền giàu có? Ai cũng phải ăn nhịn để dành; lúc nào cũng phải lo đối phó với ngoại xâm chỉ rình bóp cái cổ họng của Đông Dương trước nhất; không năm nào không lo bão tố, lụt lội, hạn hán, mất mùa... Nhưng lạ lắm, cô Ba à, tại sao tôi thấy người Bắc lúc nào cũng bình tĩnh, trầm mặc, sẵn sàng “chơi” lại những thử thách của trời trong khi vẫn sống một đời sống nội tâm phong phú, nhất là người đàn bà Bắc, sao cũng lo gánh vác giang sơn nhà chồng, cũng lo từng miếng ăn giấc ngủ cho chồng cho con, cũng hai sương một nắng mà có vẻ như không “đầu tắt mặt tối” như người đàn bà ở trong đây? Ở trong đây, người ta vội quá: người tử tế lo làm lụng vội vàng để kiếm sống đã đành, ngay các cô tứ thời lấy ngoại kiều “ngồi lên đống tiền” cũng vội; các xe hơi chạy vội, cái kèn xe bóp vội, uống rượu cũng vội, xoa mạt chược cũng vội, và nếu đôi khi có tập uống chén trà Tàu, bắt chước ngâm bài “Hoàng Hạc” cũng cứ vội luôn.
Bây giờ, ngồi mà nhớ lại, tôi không thể nghĩ được rằng tháng Giêng ở Bắc có những sự vội vàng, vất vả não nề như vậy. Người ta sống đúng như cái sống do các bậc quân tử Tàu chủ trương: sống đầy đủ, có thiếu một chút cũng không sao; làm việc cho mình, cho xã hội nhưng vẫn có thì giờ đi thuyền trên đầm thơm hát bài “Hái sen” một mình; buôn tần bán tảo ở đô thị, thôn quê nhưng vẫn dành thì giờ đi chợ kiếm một món ăn ngon cho chồng, rồi đến ngày rằm mồng một vẫn rảnh rang đi lễ cầu cho sống lâu, giàu bền, dân an, quốc thái và có hội hè gì vẫn sửa nếp áo mới, tô đôi má cho hồng để cùng với chồng vui chơi thưởng thức.
Từ ngày mồng bốn tháng Giêng, ở các làng vùng Bắc bắt đầu mùa quan
Thứ Sáu, 17 tháng 1, 2020
Giông mùa
Đi tìm những bình yên không xót xa..
Giông mùa
Trần Thùy Mai
Một ngày trước đám cưới, anh tẩu thoát khỏi cô dâu trẻ, gõ cửa căn hộ của chị với một câu hỏi quyết liệt. Chị hét lên "Không!". Anh quay đi, mười lăm phút sau quay lại với cái đầu trọc tếu: dù chị nói thế nào, anh cũng không mặc cái bộ veste mới cứng dành cho chú rể. Chị òa lên khóc rồi lau nước mắt, chấp nhận biến mình thành tấm bia chịu đạn. Hai năm sau đó họ biến thành cái đích của mọi lời chửi rủa. Chị lớn hơn anh mười sáu tuổi, điều đó thách thức một định kiến khó dời chuyển trong tâm trí nhiều người, định kiến về trật tự. Lúc ấy, chị vừa là biên đạo vừa là vai nữ chính của nhiều điệu vũ. Suýt nữa tai tiếng đã làm chị phải chia tay với nhà hát, nếu bà vũ đoàn trưởng không khăng khăng rằng trong vũ đoàn không ai thay được chị.
Sau lễ Giáng sinh, anh đến ở hẳn trong căn hộ tầng hai của chị và lập tức ném hết các tặng vật của những người đàn ông quen chị vào lửa. (Ở đó có một lò sưởi nhỏ kiểu xưa, chị đã cố giữ lại sau nhiều lần sửa chữa căn phòng). Dù phản đối kịch liệt, cuối cùng chị cũng tha thứ. Chiều cuối năm dương lịch, khi ra phố mua sắm về, chị thấy những bông hoa thạch thảo màu đỏ như một bó lửa cháy rực giữa gian phòng. Chị không tin ở mắt mình, vì ngoài màu vàng, tím và trắng, chị chưa hề biết hoa thạch thảo có thêm màu gì khác. Một tặng vật lãng mạn nhất, anh đem về cho chị sau mươi cây số xa thành phố, từ một hẻm núi mà anh đã khám phá nhờ những chuyến lang thang thời trai trẻ. Tối hôm đó chị pha hai ly cocktail đỏ, họ chúc nhau năm mới hạnh phúc, lặng lẽ, không một ai chứng kiến.
Và họ đã hạnh phúc. Một thứ hạnh phúc đầy thương tích, bởi dường như thế giới xung quanh không bao giờ để cho họ yên. Nhưng họ dần quen với những lời đàm tiếu, giống như dân du mục quen với cuộc sống lều trại. Người ta bảo đó là một cuộc tình không có tương lai. Cả chị cũng thế, khi chạm cốc mừng năm mới với anh, chị đã nghĩ: có thể sang năm, khi ngày đầu năm trở lại, thì anh đã ra đi. Vì sống trong ý nghĩ sẽ sớm chia tay, những ám ảnh về tương lai đôi khi không khỏi làm chị buồn rầu. Chị hiểu rằng do tính hay xúc động mà mình đã hành động dại dột, rằng những người đàn bà khôn ngoan chỉ bông đùa các chàng trai ít tuổi, chứ không gắn bó cuộc đời với họ. Nhưng sau thời gian sống cùng anh, chị hiểu ra tại sao trước đây không thể hạnh phúc với những người đàn ông lớn hơn mình. Từ trong vô thức hình như chị dị ứng với các biểu hiện của oai quyền, có thể là do những ám ảnh về người cha cay nghiệt. Mấy mươi năm sau khi đã sống tự lập, thỉnh thoảng chị vẫn còn mơ thấy mình ở tuổi lên mười, quỳ trên đất, khóc nức nở trong tiếng quát mắng giận dữ. Khi tỉnh dậy, chị mừng rỡ vì nhớ ra mình đã lớn.
Từ đó, mỗi năm, đến ngày Tết Dương lịch, anh lại hái tặng chị một bó thạch thảo lớn màu đỏ thắm. Họ lại uống cocktail dâu và đến tối sẽ đến câu lạc bộ hội Múa. Họ có cảm giác năm tháng không qua đi: hoa thạch thảo vẫn nở trong khe núi, đêm đầu năm mới sẽ mãi mãi ngọt ngào. Niềm tin đó quả thật cũng có chút sức mạnh phép lạ: Nếp nhăn mờ ở cổ chị như dừng lại, không dài thêm, không sâu hơn, dường như sắp biến mất. Khi người ta hạnh phúc, người ta không cảm thấy mình đang trên đường đi đến cõi chết. Về sau, chị hiểu ra tại sao người xưa cho rằng ở trên trời thời gian trôi rất chậm, đến nỗi dưới trần gian đã ba năm thì trên ấy mới có ba ngày. Ý tưởng ấy khiến chị lao vào thiết kế một điệu vũ mới. Ngày như đêm, chị vùi đầu vào việc tập luyện và dàn dựng, tin chắc rằng khi xem Tìm lại Thiên đường của chị, bà vũ đoàn trưởng sẽ một lần nữa ôm hôn tác giả chùn chụt và nhắc đi nhắc lại: "Tôi đã bảo mà, chưa hề có ai thay được cô".
Sáu năm trôi qua. Chính chị cũng không ngờ, họ đã sống bên nhau chừng ấy năm, chừng ấy tháng, chừng ấy ngày, và giờ đây đã có thể nói là sẽ sống cùng nhau mãi mãi... Cả hai người đều cảm thấy mối quan hệ này rất giòn và dễ vỡ, nhất là khi phải luôn chịu sự va đập của thế giới quanh mình. Nhưng họ cũng dễ nhận ra: đôi khi những món đồ bằng pha lê, rực rỡ và mong manh như bọt nước, lại có tuổi thọ dài lâu hơn những vật cứng hơn nó rất nhiều, bởi chúng luôn được gượng nhẹ nâng niu.
Ngày vừa tẩu thoát khỏi đám cưới, anh bảo chị: từ khi bãi bỏ chế độ nô lệ, không có lệ người sở hữu người. Nhưng giờ đây anh bắt đầu nảy sinh ý muốn xác lập quyền sở hữu của anh. Anh không cho chị múa đôi với ai, không muốn chị về trễ nhiều, không muốn chị đi lưu diễn dài ngày. Anh mong ước chị sinh con, có con chị sẽ ngồi lâu hơn trong tổ ấm. Những dự tính của anh làm chị buồn rầu. Chị hàm ơn anh vì anh đã sống bên chị như một nguồn cảm hứng, chứ không phải là một ông chủ. Nhưng ngày gặp chị, anh là một chàng trai hai bốn tuổi, còn nay anh đã là một người đàn ông ở tuổi ba mươi. Đêm ấy chị không ngủ được. Anh nằm yên, thở đều và mạnh, trán kê vào dưới vai chị. Khi ngủ mặt anh rất đẹp, không có vẻ cau có thấp thoáng của ban ngày. Nhưng chị không nhìn anh, chị ngoảnh mặt về phía cửa sổ, nhìn vầng trăng trơ trọi trên trời. Trăng đang từ tròn chuyển sang khuyết. Chị nghĩ: Vậy là trên thiên đường thời gian không đứng lại.
Cuối năm ấy, phóng xe về lại khe núi ngày trước, anh ngỡ ngàng. Một con đường thênh thang tráng nhựa chạy dọc sát khe núi. Người ta đã làm đường cao tốc nơi đây, biến một vùng hoang vu thành xa lộ. Nơi khe núi xưa, dãy quán hàng vừa mọc lên. Một cô bé ngồi nướng mực bên chậu than hồng, mùi thơm của biển lan tỏa trong không gian núi. "Hoa đỏ à, còn nhiều lắm bên kia khe". Cô bé dẫn anh đi, luồn lách theo những đường mòn đầy gai sau dãy đồi. Trên đường về, chợt tiếng sấm ầm ì vang lên trong mây. Cô bé kêu: "Mưa giông. Kỳ quá ha, sao mùa xuân mà có giông?". Một tiếng sét dữ dội cắt đứt lời cô bé. Cả hai cúi rạp xuống, chạy thi với cơn mưa. Nhưng cuối cùng mưa vẫn bắt kịp. Về đến quán bên đường, họ ướt sũng. Bà chủ quán cười: "Giông sớm thiệt. Trời đất đảo lộn hết rồi". Cô bé thay áo sau bức màn, nói vọng ra: "Sớm chi nữa?". "Đầu xuân đã có giông, không sớm à?" Tiếng cười giòn tan lẫn trong tiếng áo ướt kéo qua da thịt: "Con đợi giông từ tháng năm tới chừ, trễ quá rồi". Anh cởi áo hơ bên chậu than hồng, tủm tỉm cười vì ý nghĩ ngộ nghĩnh của cô bé. Ừ, nếu đây là cơn giông của mùa hè năm trước thì quả là muộn lắm. Cô bé ngồi trước mặt anh, tóc rối, mảnh dẻ, ướt át. Trong một phút anh liên tưởng đến cô dâu bé bỏng mà anh đã bỏ lại năm xưa trong một cơn đam mê như bão. Ý tưởng của anh nhảy cóc từ kỷ niệm này sang kỷ niệm khác, cuối cùng là kỷ niệm về cái đầu trọc tếu. Anh bật cười. Một kỷ niệm lớn trong đời anh.
Mưa đã tạnh, anh vội vã quay về với bó hoa dành cho phút giao thừa. Chị chờ anh trong căn hộ ấm áp; chiếc áo mặc nhà hở vai lấm tấm hoa tím trắng làm chị có vẻ nhẹ nhõm tươi vui, nhưng nơi đáy mắt chị ẩn núp một nỗi hoang mang. Chiều hôm nay, chị đã bị cơn giông trái mùa cầm chân lại trên thềm nhà hát. Ngồi chờ mưa tạnh, bà vũ đoàn trưởng tâm sự với chị vài nỗi lo âu, rồi cả hai bỗng cao hứng rủ nhau gọi taxi đến thăm một nhà chiêm tinh nổi tiếng mới ghé qua thành phố. Trong không gian âm u của ngôi nhà rường cổ, nhà chiêm tinh nhìn lên khuôn mặt tươi tắn của chị, nói rằng khí sắc của chị đang báo điềm không tốt. "Đâu có!". Chị phản đối. Chị đang cảm thấy rất hạnh phúc, chị làm việc hết sức mình, chị đang yêu và được yêu. Bàn tay gầy khô đưa ngọn nến trên bàn đến sát mặt chị: "Có vết đen mờ hiện ra nơi trán. Những ngôi sao của cô đang bị mây che, nguồn lực của cô đang giảm dần". Chị cười, không mấy tin. "Một năm sau, tôi sẽ quay lại đây. Khi đó, nếu cô cần tôi giúp...". Ông ta vụt im bặt, những nếp nhăn trên mặt co rúm lại.
Đã bảy giờ tối, chị nôn nóng ra về. Chị trang hoàng lại bàn ăn, treo những chiếc rèm cửa mới, đặt sẵn bộ váy đẹp nhất lên giá áo. Đêm nay, lúc tiếng nhạc Happy New Year vang lên trên đường phố, anh sẽ cùng chị đến Câu lạc bộ hội Múa, như mọi năm. Bỗng nhiên chị hắt hơi dữ dội liền mấy cái. Một linh cảm mơ hồ đè nặng lên tim chị. Nhưng anh đã về, tay ôm bó thạch thảo ướt sũng. Chị cảm động. Dưới ánh nến, những nhánh hoa đọng nước trông rực rỡ hơn bao giờ hết.
Nhưng một năm sau đó đã trôi qua với âm điệu khác. Bà vũ đoàn trưởng vẫn tin yêu chị, những vở múa của chị vẫn được tán thưởng. Mối quan hệ với chàng trẻ tuổi lâu ngày đã thành quen trong mắt người xung quanh, không còn là một thách thức với xã hội nữa. Vũ khúc Tìm lại Thiên đường mỗi năm vẫn được tái hiện trong những chương trình lớn. Nhưng chị đau lòng, chị vốn nhạy cảm, không chịu nổi khi thấy nhiều học trò bỗng nhìn chị với ánh mắt khác đi. Những cô bé học trò ngày nào lúng túng, vụng về, nay đã trở thành những cô gái sắc sảo và xinh đẹp. Chị hiểu: Chị đã cản đường họ. "Chưa đến thời của họ đâu". Lời nói chắc nịch của bà vũ đoàn trưởng làm chị yên tâm, chị nỗ lực nhiều hơn nữa để chứng minh rằng mình xứng đáng. Càng đắm mình vào công việc, chị càng cần dựa vào anh, như cái cây cần tưới nước để đâm hoa trổ lá. Nhưng anh dường như ngấm ngầm bất mãn. Anh cảm thấy tổn thương vì chị không chịu lệ thuộc vào anh.
Năm ấy là một năm đầy day dứt, giống như một ngày xấu trời trong mùa thu đẹp. Cuối năm chị được mời dự lễ hội nơi một thành phố biển. Chị rủ anh cùng đi, nhưng anh từ chối. Thật ngạc nhiên, vì anh chưa bao giờ từ chối chị điều gì. "Anh chỉ muốn đón Tết Dương lịch như mọi năm". Lâu nay anh chuyển cách xưng hô từ gọi tên sang anh, em, chị thấy xưng hô như thế có phần ngược ngạo nhưng cũng chiều anh, như chiều theo sở thích khùng điên của một đứa trẻ. Ước muốn có một đêm cuối năm mới mẻ với chuyến du lịch nơi xa đã không thành, vậy hãy tìm một cách khác thổi sinh khí vào những thói quen cũ... Ý nghĩ ấy làm chị nhớ tới lời dặn dò của nhà chiêm tinh: "Nguồn lực của chị đang giảm dần... Hãy thu lại những điện năng đã mất". Chiều hôm ấy chị một mình đến ngôi nhà rường trong khu thành cổ. Có tất cả ba gói nhỏ. Một gói bên ngoài ghi chữ "Gối". Gói này sẽ được đặt vào dưới chỗ kê đầu. Một gói ghi chữ "Tắm". Chất bột trong gói sẽ hòa vào nước tắm mỗi ngày của chị. Một gói ghi chữ "Ngải". Gói này sẽ hòa vào ly của anh. Chất bột trắng này sẽ như một cái xiềng êm ái mãi mãi buộc anh vào với chị. Nhà chiêm tinh dặn: "Không ai đủ mạnh để mãi mãi tin ở mình, chỉ có bùa thiêng là vô địch và vĩnh viễn".
Chiều cuối năm không mưa. Chị thay những chiếc vỏ gối mới rồi đi tắm, ngâm mình trong thứ nước thần kỳ; Anh không phải chỉ là tình yêu, anh là sự sống của chị, không có anh, chị sẽ không có những điệu múa, nghĩa là không còn gì hết: vẻ trẻ trung bên ngoài, sự nể nang của đồng nghiệp, lòng tin cậy của bà vũ đoàn trưởng... Chị muốn làm mọi cách để anh luôn là anh của một mùa đông cách đây bảy năm, chị sẽ có anh không phải chỉ để thương yêu, mà là để sinh tồn. Vì sự khao khát sinh tồn mà chị đã vô tình phản bội lại nguyên tắc của ngày đầu, nguyên tắc của Tự do.
Anh vẫn chưa về. Chị mắc sẵn chiếc áo vũ hội trên vách. Gói bột ngải hòa vào ly nước dâu đỏ óng ánh. Chị kiên nhẫn chờ, trong khi chiếc đồng hồ "Coucou" treo trên vách cứ vang lên từng tiếng tanh tách, tanh tách phát ra từ chiếc kim giây. Sau này anh nghe những người hàng xóm kể lại: chị rời căn hộ vào khoảng 6 giờ chiều, tay xách vali, không chào ai cả nhưng đã ghé vào thăm bà bảo vệ nghèo có đứa con đau ốm, cho đứa bé một số tiền, rõ là chị có ý đi xa dài lâu. Đó là chuyện về sau anh mới biết, còn tối hôm ấy, thấy bàn tiệc đã sửa soạn sẵn, anh đoán rằng chị chỉ đi đâu một lát. Anh tự cắm bó hoa thạch thảo đỏ vào chiếc lọ sứ trên bàn rồi tìm cốc nước dâu thường lệ, nhưng cái ly lớn trên bàn rỗng không với chút cặn ở đáy ly, hình như có ai đã uống trước. Anh nhăn mặt, mở tủ lạnh tìm một cốc nước lọc. Trời càng tối anh càng băn khoăn, đây là đêm cuối năm đầu tiên chị bắt anh phải chờ. Cũng như chị, anh muốn thử thổi sinh khí vào những thói quen cũ: thay vì đến câu lạc bộ như mọi năm, anh định cùng chị dự giao thừa ở đại sảnh một khách sạn lớn trong thành phố. Người ta đã gửi anh hai vé với lời mời nhiệt tình. Vì đã lỡ hứa, giờ đây anh quá nóng lòng, chỉ lo đến trễ. Mười giờ đêm. Anh nhảy bổ vào phòng tắm để thay áo. Chính lúc đó anh nhìn thấy chiếc áo vũ hội hàng năm của chị, cái dáng vắt vẻo như bị ruồng bỏ của nó khiến anh nhận ngay ra có gì đó bất thường. Anh chạy quanh hỏi những người hàng xóm, biết rằng chị đã ra ga. Chuyện gì xảy ra vậy? Anh định chạy ra ga, nhưng đúng lúc ấy, chiếc đồng hồ Coucou gõ vang lên. Nửa đêm rồi, năm cũ đã giã từ. Không còn thời gian nữa. Vội vã lên xe, anh đến khách sạn một mình.
Tàu đã rời ga từ lâu. Chị ngồi yên, mắt mở tỉnh táo nhìn ra cửa sổ: những con đường, những ngã tư, những mái nhà. Rồi đồng trống mênh mông và những trụ điện xa xa ven con đường cao tốc chạy song song với đường tàu. Điện thoại trong túi áo trên ngực chị rung lên. Tiếng của bà vũ đoàn trưởng. Cuộc giao lưu đầu năm mang lại nhiều cơ hội cho hoạt động vũ đoàn trong năm tới nên bà không muốn vắng chị. Nghe chị trả lời, bà thét lên: "Tôi đã bảo rồi, vẫn chưa ai thay thế cô được!". Chị cười, nước mắt trào ra. Không, đừng chui đầu xuống cát, đã đến lúc tôi phải đi rồi và cả bà, bà cũng phải đi rồi. Ngoài kia, dưới ánh trăng non, những nghĩa trang xa thành phố với những nấm mộ không hàng lối lũ lượt trải dài. Ở dưới đó là những con người đã từng không ai thay thế được. Ý nghĩ ấy làm chị mỉm cười lạnh lẽo, quyết định tắt hẳn máy trước khi cho vào túi. Tối nay, khi chờ anh trở về, chị đã lấy chiếc áo dạ hội ra mặc thử và kinh hoàng nhận ra, chị không thể mặc vừa nó nữa! Chất bột trong nước tắm chẳng giúp được gì ngoài việc làm các vòng của chị bung phá nhanh hơn. Trong chốc lát chị nhận ra sự vô vọng. Cầm lấy ly nước dâu, chị chạy ra hiên, tưới nó xuống chậu cây...
Sau này vì đã đi rồi, chị không biết chiều hôm ấy mình đã thoát được một trọng tội. Những dây vạn niên thanh trồng trong chậu chẳng bao lâu đã úa vàng rồi héo khô, rễ chúng đã bị chất bột phù thủy làm cho chết úng giữa mùa xuân. Giao thừa đêm ấy, anh một mình tiến vào đại sảnh của khách sạn. Vũ hội đã bắt đầu, những sắc áo lộng lẫy, những bó hoa rực rỡ đó đây, trong đó có rất nhiều thạch thảo đỏ. Từ lúc người ta xẻ đường lấn sát vào chân núi thì thạch thảo đỏ không còn là một phát hiện của riêng anh nữa, nó đã trở thành thời trang mới của những shop hoa trong thành phố. Màu đỏ rực rỡ và tê tái một thoáng làm buốt tim anh. Nhưng đúng lúc đó, một cô gái trẻ từ đám đông bước đến. Cô gái trẻ ở vũ đoàn, người đã gửi cặp vé cho anh tối nay. Cô đã thầm mong anh sẽ đến một mình. Giờ đây sự xuất hiện đơn độc của anh đối với cô thực đầy ý nghĩa, khiến cô xúc động muốn khóc. "Sao anh đến muộn thế, bản Paso khai mạc đã qua rồi. Nhưng không sao, vẫn còn bản Tango và bản Valse, anh sẽ dành cho em nhé?". Dù còn chìm trong nỗi u sầu, anh vẫn gật đầu, như không thể nào khác. Vẻ nhiệt thành và thơ ngây của cô, đôi chân búp măng dưới tấm váy giản dị đột ngột làm bừng lên trong anh tiếng sấm, ánh chớp, tiếng vải ướt kéo qua da thịt: ấn tượng về cơn giông mùa xuân trong thung lũng. Anh tiến thẳng vào giữa đại sảnh đông người. Giàn nhạc bắt đầu bản Tango. Anh quay lại, đối diện với thiếu nữ. Lúc ấy anh biết mình đã thực sự ra khỏi huyền thoại của một tuổi thơ nối dài. Một huyền thoại mà nhiều năm sau anh sẽ còn nhớ, nhưng giờ đây không thể không chấm dứt.
Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2020
Vong xuyên
"..Kẻ Si không chối bỏ các duyên nợ của mình, cũng không đắm chìm mê muội trong ký ức, mà gom góp tất cả những khoảnh khắc đẹp nhất để kiến tạo nên thế giới này."
(Lê Duy Nam & Hà Thủy Nguyên)
https://bookhunterclub.com/vong-xuyen-va-anh-cua-ke-si/
(Lê Duy Nam & Hà Thủy Nguyên)
https://bookhunterclub.com/vong-xuyen-va-anh-cua-ke-si/
Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2020
Chia
"..Chia cho em một đời tôi
Một cay đắng. Một niềm vui. Một buồn.
Chia cho em một đời xanh
Một cây si với một cây bồ đề
Chia cho em một đời thơ
Một đam mê. Một dại khờ. Một tôi."
(thơ Nguyễn Trọng Tạo, Phú Quang phổ nhạc và thay đổi chút phần lời)
Link bài thơ gốc: https://www.thivien.net/Nguyễn-Trọng-Tạo/Chia/poem-rmtIAF-itAqHhEgIlPtLRg )

