Thứ Sáu, 11 tháng 12, 2020

Trộm nhìn nhau

 Trộm nhìn nhau

Bài hát sáng tác bởi nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng

Phiên bản trình bày mình thích nhất là của ca sĩ Quang Lê

Lời bài hát rất hay, ẩn chứa tình cảm kín đáo, dài lâu qua dâu bể, cái nhìn về kiếp nhân sinh của người từng trải, nặng mà nhẹ, buộc mà buông.

Đôi khi trộm nhìn em 

Xem dung nhan đó bây giờ ra sao 

Em có còn đôi má đào như ngày nào 

Kể từ khi vắng anh 
Em như tấm vải lụa nhàu
Thương thâu đêm giấc mộng xanh xao 
Anh có bề nào ai đón đưa em 

Cuộc đời là vách chắn là rào thưa 
Thương em tiếng hát sang mùa 
Một mai mưa ướt áo em 
Áo mỏng đường mòn 
Dáng nhỏ thân quen 

Đôi khi em trộm nhìn anh 
Xem đôi tay rắn phong trần năm xưa 
Anh có còn mê sông hồ qua từng ngày 

Kể từ khi vắng anh 
Em như tấm vải lụa nhàu
Đêm thâu đêm giấc ngủ xanh xao 
Anh có bề nào ai đón ai đưa 

Cuộc đời là vách núi là tường mây 
Quê hương nắng cháy đêm ngày 
Mà anh chim vút cánh bay thăm thẳm đường dài 
Không về thăm em 

Đôi khi trộm nhìn me 
Soi gương trang điểm cho đời thêm tươi 
Thương tiếc thời tô phấn hồng sang nhà người 

Rồi mùa xuân cũng qua 
Mang theo tuổi dại ngọc ngà 
Đêm qua đêm tính trọn tương lai 
Mơ thấy một ngày con níu chân cha 

Cuộc đời là bể cả, là dòng sông, 
Như con nước lớn nước ròng 
Mà ta như chiếc lá khô 
Nước chảy về nguồn, lá đành trôi theo...

Em thương

 Em thương

Nguyễn Ngọc Ký

Em thương ngọn gió mồ côi

Không tìm thấy bạn, vào ngồi trong cây

Em thương sợi nắng đông gầy

Run run ngã giữa vườn cây cải ngồng

----

một bài thơ nhỏ giàu hình ảnh và cảm xúc mình đọc được hồi cấp II. tác giả là thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký - tấm gương nghị lực vì bại liệt đôi tay mà đã dùng chân để viết và giảng dạy.

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2020

Ngày sanh của Rắn

Ngày Sanh Của Rắn

Phạm Công Thiện

nguồn: tienve.org
 
 

I

 
tôi đi đông chìm 
trời âm u thung lũng khô 
nhiều mây chim bay không nổi 
 
tôi đi 
dưới kia sụp đổ 
núi cấm nổ tôi ra 
cửu long ca từ tây tạng 
 
tôi về 
tôi hiện 
đèn tắt trời gió tắt trăng 
chim lạ 
kêu tiếng người 
hố thẳm ra đời 
tôi bay trên biển 
 
 

II 

 
tôi nằm cho rã chiếu cạp điều 
nước chảy lên vùng phố tịch liêu 
tôi nhớ một lần cây quế mọc 
tôi đứng gọi hương trọn buổi chiều 
 
 

III 

 
mưa chiều thứ bảy tôi về muộn 
cây khế đồi cao trổ hết bông 
 
 

IV

 
trời mưa nữu ước cây mọc 
nhớ hương trời mưa ngày tháng 
nhớ hương đường hoang mái vắng 
nữu ước chỉ còn hương trong giấc ngủ 
tim anh tràn máu
con chim đã bay về rừng đạn 
anh không còn làm tu sĩ
anh chỉ còn hương trong giấc ngủ 
anh chỉ còn máu để đổ vào tim hương 
đổ vào tám tách cà phê đen anh uống mỗi đêm 
 
tại greenwich village 
tại làng thi sĩ 
tại đường khói bay 
tại hương trong giấc ngủ 
tại chiều ba mươi tết ở việt nam 
bây giờ anh xa hương đến mấy đại dương xanh 
mấy phương trời cỏ mọc 
mấy phương trời hương khóc 
hương còn ca hát 
hương còn phơi áo giữa phố buồn 
hương còn cười 
mười năm rồi cây quế vẫn mọc trên đời anh 
trên mắt anh 
môi anh 
trên bước chân buồn phố mẹ ngày xưa 
trên bước chân chiều phố lạ hôm nay 
mưa làm tóc anh thơm
mùi cây quế 
giữa hồ
mọc giữa hồ quế hương 
tóc anh mọc dài 
che chở hương
lúc mưa rơi
lúc đông lạnh 
lúc chim chiều đi mất 
mưa trên phố đêm 
trên quán cà phê ý đại lợi 
trên chiến tranh
của quê hương 
của quế hương 
còn anh 
 
 

V

 
rạng đông tôi xin thề thức dậy ba giờ sáng 
đợi kinh đào chảy ngược 
cửa nhỏ đóng kín 
những chiếc cầu tuổi dại 
mười sáu năm tôi thức trong đời 
mười sáu con kinh đào không bao giờ chảy ngược 
đứng ngang cầu pont-neuf 
nhìn sông seine tôi thấy cửu long 
paris đuổi mất mây mộng hoang đường 
đập vỡ cơn điên trên triền đá sương 
tôi trốn giặc đời 
tắm trong hồn hương 
trái đu đủ 
trong khu vườn xưa 
con rắn nhỏ 
 
 

VI

 
tôi chấp chới 
đắng giọng 
giữa tháng ngày mơ mộng 
nốt ruồi của hương 
hay nốt ruồi của rigvéda 
tôi mửa máu đen 
trên nửa đêm paris 
tôi giao cấu mặt trời sinh ra mặt trăng
tôi thủ dâm thượng đế sinh ra loài người
cho quế hương nằm ở nhà thương điên của trí nhớ
mặt trời có thai!
mặt trời có thai!
sinh cho tôi một đứa con trai mù mắt
 
 

VII

 
tôi nuốt nọc đen giữa đường guillaume apollinaire 
từ xóm saint-germain-des-prés 
mọc lên giáo đường hang động 
cà phê biến hồn đầu thai 
hoá thành một triệu con ma đen
nhảy múa trên núi lửa đầu tôi 
tôi mặc đồ xanh 
và mang đồng hồ da đen 
tôi chứa chấp sáu ngọn lửa điên
trong sáu diêm quẹt còn rớt lại 
tôi gọi hương và tôi chết giấc
tôi chạy lên trời làm rắn thâu đêm 
máu đổ mưa đen
ồ cây mồng tơi 
của thời trẻ dại 
tôi gọi thầm 
rắn cuộn tròn 
tương lai 
 
 

VIII 

 
mười năm qua gió thổi đồi tây 
tôi long đong theo bóng chim gầy 
một sớm em về ru giấc ngủ 
bông trời bay trắng cả rừng cây
gió thổi đồi tây hay đồi đông 
hiu hắt quê hương bến cỏ hồng 
trong mơ em vẫn còn bên cửa
tôi đứng trên đồi mây trổ bông 
gió thổi đồi thu qua đồi thông
mưa hạ ly hương nước ngược dòng 
tôi đau trong tiếng gà xơ xác 
một sớm bông hồng nở cửa đông 
 
 

IX

 
rắn trườn vỡ trứng chim rừng 
tôi nghe tiếng hát hoang đường nửa đêm 
khuya buồn tủi nhục môi em 
mưa bay nhỏ nhẹ qua thềm bơ vơ 
tiếng ru chín đỏ điện thờ 
hoang vu tôi đứng đợi chờ chim kêu 
tay còn ôm giữ tình yêu 
tôi về phố động những chiều hư vô 
đời đi trên những nấm mồ 
đau tim em hát cơ hồ khăn tang 
phố chiều tôi bước lang thang 
nuôi con sông nhỏ mơ màng biển xanh 
nửa đêm khói đốt đời anh 
yêu em câm lặng khô cành thu đông 
lời ca ru cạn dòng sông 
trọn đời chạy trốn mống vồng cầu điên 
bỏ mình nước chảy đồi tiên 
theo con chim dại lạc miền thiên hương 
về đâu thương những con đường
lê thê phố cũ nghe buồn hè xưa 
 
 

X

 
mùa xuân bay thành khói 
tôi ca hát một mình 
suốt đời không biết nói 
nước chảy tràn con kinh 
quá khứ bay lên trời 
biến thành cánh chim non 
tôi quì hôn lá mới 
đau khổ trắng linh hồn
hư không đổ ra khơi 
kỷ niệm trôi qua cầu 
bãi chiều chưa người tới 
tình nhỏ quên từ lâu 
xuân bay trắng núi đồi
tôi nằm ngủ mơ chim 
bỗng hét lên trong tối 
ngồi thức dậy bảy đêm 
trời cuối năm gác trọ
đèn tắt suốt đêm dài 
con chim mười năm nhỏ
bay về đậu nơi đây 
hơi thở giết thời gian 
bướm nằm chết thang lầu 
tiếng chim ru ngày tháng 
máu chảy về sông sâu 
suốt đời không biết nói 
tôi ngồi thức một mình 
đốt thuốc lên nhìn khói
đêm rạng điềm hư linh 
 
 

XI

 
tôi lái ô tô buýt giữa thành phố new york 
mỗi ngày tôi lái ô tô buýt đi trên những con đường không người những con đường chim chết 
những con đường của mỗi ngày 
từ riverside drive đến broadway đến đại lộ thứ năm rồi đến washington square 
công trường nghệ sĩ tóc bay hương hát 
từ greenwich village tôi đi về chinatown 
mười lăm xu mỗi chuyến 
xa hay gần hay mau hay chậm 
tôi vẫn lái cuộc đời tôi trên những con đường quen thuộc không mây
mùa lá hay mùa kèn nửa đêm 
dong buồm thổi đến honolulu lặng gió 
xa việt nam đà lạt và cà phê tùng cuối năm 
tôi cúi đầu trong hầm cà phê figaro nữu ước 
chuyến ô tô buýt của đời tôi vẫn chạy hoài 
trên những con đường mỹ châu trống rỗng 
chuyến xe không về harlem đói lửa 
vì mỹ châu trống rỗng trên chuyến ô tô buýt chiều nay tóc bay hương khóc
tôi vẫn lái chuyến xe này đi về đêm tối 
đêm tối nữu ước là đêm tối nhà xác
tôi đốt đèn cầy để nhìn xác tôi giữa nhà mồ mỹ châu lạnh lẽo mưa đen
đêm qua tôi thấy máu đổ trong hầm xe điện irt
giữa con đường 42nd hay times square 
tôi thấy việt nam ngang tàng cho mặt trời vẫn mọc trên rắn lửa 
trên mái ô tô buýt chiều thu 
 
 

XII 

 
buổi chiều mưa đụng tim 
mưa đụng máu 
đèn đường đổ xuống nước xanh 
xin hét lên rừng u minh đầu đông
tử hình trong ngục
nhốt vào trong ngục
suốt đời trong ngục
khói vóc lửa núi 
nhóm nước đầu thu
xin đừng nói 
lá chuối
lá me non
xanh nhà thương
ngồi trong thành phố
hoa trắng không còn
con chó đứng nhìn xe lửa mỗi ngày
chùm hoa trắng rụng một hai bông rất nhỏ
bông trắng quá nhỏ
buổi chiều ích kỷ
con đường quá dài
những cây trắc bá chùi đầu lên nghĩa địa
một người hoạ sĩ thất tình
nhân loại đều thất tình 
nói đi thật nhiều 
khoai tây 
lang thang ngược vòng những vũ trụ 
anh nói gì
tôi không nghe
xuống phố và lên phố
chạy hun hút qua hai nghĩa địa
cây trắc bá
chôn vùi con chó nhà ga

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2020

Một đời quá dài

Một đời quá dài
Tác giả: Khuyết danh

Cả một đời quá dài,
Nên không muốn tạm bợ.

Bạn tôi kể, lúc mẹ cô ấy li hôn có nói với cô ấy một câu: ''Một đời quá dài.''

Cô ấy nói: Ba mẹ ly hôn, bởi vì ba gảy tàn thuốc lá vào chậu lan mẹ trồng. Mẹ tôi là kiểu phụ nữ có xuống lầu đổ rác cũng phải ăn mặc chỉnh tề, lúc tôi 12 tuổi, mẹ và ba ly hôn, cũng bởi vì ba ném tàn thuốc vào chậu lan mẹ trồng, nhiều lần mẹ nói cũng vô ích. Bạn bè khuyên nhủ, mẹ chỉ nói một câu:'' Anh ấy rất tốt, chỉ là không hợp đi cùng nhau nữa.''

Bà ngoại tức giận mắng mẹ: '' Mày cứ đọc nhiều sách vào rồi vẽ thêm chuyện.'' Trong mắt bà ngoại: con rể anh tuấn cao lớn, có thể kiếm tiền, hiếu thuận lo cho gia đình, ngược lại là con gái bản thân tùy hứng, không chịu nghĩ đến cảm nhận của con cái và cha mẹ.

Mẹ cũng rất khó giải thích cho bà rằng ba không thích tắm rửa, quần áo bít tất ném loạn, ăn cơm như hổ đói, không nhớ được sinh nhật của mẹ,không nhớ những ngày kỉ niệm, sao có thể xem như khuyết điểm đây, đàn ông đều như thế này sao ?

Tôi nhớ rất kỹ lúc mẹ mang theo tôi rời nhà, từng chảy nước mắt nói với tôi: 'Hy vọng con có thể hiểu cho mẹ, cả một đời quá dài.'

Lúc tôi 16 tuổi, ba dượng xuất hiện, vóc dáng ba không cao, tướng mạo bình thường, nhưng cả người sạch sẽ khoan khoái nhẹ nhàng, cười lên rất ôn hòa, tôi đối với ba dượng không có cảm giác bài xích.

Ba sẽ vì mẹ mà thay đổi những chậu hoa xinh đẹp, sẽ mua khăn trải bàn màu xanh nhạt hợp với bát đũa mới, sẽ vì mẹ mua một đôi giày da trắng sữa hợp với chiếc đầm đỏ của mẹ,sẽ thay mấy cái móc khóa đáng yêu cho tôi.

Ba dượng sẽ nắm tay mẹ đến bờ sông tản bộ, ngắm trời chiều và mặt trời mọc, đến những công viên đầm lầy để chụp hoa và chim, kể cho mẹ nghe tên của những loại cây cỏ và câu chuyện ẩn trong nó, mang về nhà những nhánh cây rơi, sau đó cắm trong bình cổ, bày trên bàn sách của tôi.

Mẹ thích tìm tòi sách dạy nấu ăn, mỗi lần mẹ long trọng làm món mới, ba dượng sẽ kéo tôi lại ngồi ngay ngắn, sẽ bắt chước những giám khảo và bắt đầu nhận xét về màu sắc và mùi thơm trong ánh mắt mong chờ của mẹ, đùa khiến mẹ cười khanh khách không ngừng.

 Có một lần mẹ bệnh phải nằm viện, tôi đến chăm liền thấy trên đầu giường đặt một bó bách hợp, hoa quả cắt thành miếng nhỏ đặt trong bát sứ màu xanh nhạt. Ba dượng ngồi bên giường, đọc sách cho mẹ nghe. Bên cạnh giường bệnh có mấy dì nghiêng đầu hâm mộ xem cảnh này, bỗng nhiên mũi tôi chua chua, rốt cuộc cũng hiểu rõ câu nói kia: ''Cả một đời quá dài.'', cả một đời quá dài - nên không muốn tạm bợ. Nếu người và người ở cùng nhau, chỉ vì cuộc sống, mà trong cuộc sống không có kỳ nghỉ, không có vui vẻ, không có cảm động, không có lãng mạn, vậy đó cũng coi như đối tác cuộc sống thôi. Tình nguyện yêu không lối về, cũng không muốn vui vẻ hời hợt trở thành tình cảm nhạt nhòa. 

---------------
vài dòng cảm nghĩ

cuộc sống vốn không đơn giản như trong bài viết, nhưng ít nhiều bài viết cũng chạm đến cốt lõi của chuyện tình cảm. yêu đương không phải là thi gan đấu trí, mà chỉ là muốn nuôi dưỡng một chút bình yên, có thể dốc bầu tâm tình thì cũng có thể kiên nhẫn lắng nghe, và nhất là tuyệt nhiên không muốn nhìn thấy đối phương mệt mỏi về thể chất hay rầu rĩ trong tinh thần. nếu biết xót nhau sẽ đi được đường dài: mối quan hệ nào cũng vậy. 

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2020

"Em gầy như liễu trong thơ cổ.."

"..Anh nhớ em ngồi áo trắng thon 
Ngàn năm còn mãi lúc gần quen 
Em gầy như liễu trong thơ cổ 
Anh bỏ trường thi lúc thịnh Đường. 

Anh nhớ sông có nguyệt lạ lùng 

Có trời lau lách chỗ hư không 
Em tìm âu yếm trong đôi mắt 
Thấy cả vô cùng dưới đáy sông.."

(Nguyên Sa)

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2020

Quả dưa

Quả dưa
Hàn Mặc Tử

Ánh nắng lao xao trên đọt tre
Gió nam như lửa bốc tư bề
Môi khô chưa nếm mùi son phấn
Khao khát, trời ơi, bụm nước khe!

Lơ đãng mắt nhìn đến vạt dưa
Quả dưa xinh xắn buổi ban trưa
Chán chường hóng mát nằm phơi bụng
Ai thấy lúc này mà chẳng ưa!

Ta liền ngắt đi rồi bóc xem
Má hồng ưng ửng lại răng đen,
Đã nhìn tận mặt còn chi nữa
Ta vội kề môi cắn kẻo thèm!

Ánh nắng lao xao trên đọt tre
Tiếng ca lanh lảnh trong vườn me
Tiếng ca im bặt. Rồi thấp thoáng
Vạt áo màu nâu hiện trước hè.

Mùi hương đi trước, nàng theo sau
Đến chỗ vạt dưa, bỗng nghẹn ngào
Hổn hển nấc lên từng tiếng một:
"Quả dưa ai hái? Quả dưa đâu?"

Đà Lạt trăng mờ (trích)

"..Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều,
Để nghe dưới đáy nước hồ reo.
Để nghe tơ liễu run trong gió,
Và để xem trời giải nghĩa yêu."


(Hàn Mặc Tử)

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2020

Dặm về

Dặm về
Nguyễn Đình Tiên

Mai chị về em gửi gì không
Mai chị về nhớ má em hồng
Đường đi không gió lòng sao lạnh
Bụi vướng ngang đầu, mong nhớ mong

Quê chị về xa tít dặm xa
Rừng thu chiều xao xác canh gà
Sương buông khắp lối đường muôn ngả
Ngựa lạc cành hoang, qua lướt qua

Ngựa chị dừng bên thác trong veo
Lòng chị buồn như nắng qua đèo
Nơi đây lá rạt vương chân ngựa
Hươu chạy theo đàn, theo ngó theo

Rừng đêm nhoà bóng nhớ hoang mang
Ngựa chị vừa qua thác sao vàng
Sao trôi đáy nước, rơi chân ngựa
Buồn dưng đôi mi, hàng lại hàng...


--------
Bài thơ được nhạc sĩ Cung Tiến phổ nhạc với sự trình bày của ca sĩ Lệ Thu (phần tác giả thơ bị ghi nhầm là Quang Dũng)

https://youtu.be/iKdtAdNGxWA

Thứ Sáu, 31 tháng 1, 2020

Sơn trung vấn đáp

Sơn trung vấn đáp
Lý Bạch

Vấn dư hà ý thê bích sơn,
Tiếu nhi bất đáp tâm tự nhàn.
Đào hoa lưu thủy diểu nhiên khứ,
Biệt hữu thiên địa tại nhân gian.

Hỏi sao lại vào nơi núi biếc,
Ta cười không đáp tâm tự nhàn.
Đào hoa theo nước trôi xa mãi,
Đất trời ta có giữa nhân gian.


Thứ Bảy, 25 tháng 1, 2020

Thương nhớ mười hai - Tự ngôn và Chương I

Thương nhớ mười hai 
(Tự ngôn và Chương I)

Vũ Bằng

Bắt đầu viết cuốn sách này thì là nhớ. Viết đến câu cuối bài Tháng Chín thì là thương. Thương không biết bao nhiêu, nhớ không biết ngần nào người bạn chiếu chăn: NGUYỄN THỊ QUỲ.


Thành mến tặng Quỳ cuốn sách này để thay mấy lời ai điếu. - Vũ Bằng


TỰ NGÔN


Thoạt đầu ai cũng tưởng chẳng làm sao. Cùng là đất nước, đi đâu mà chẳng thế? Từ Bắc vào Trung, đâu đâu lại không có những con mắt nhìn vào những con mắt mà như gói ghém cả một trời thương; từ Trung vào Nam, chỗ nào mà lại chẳng có những miệng cười, không nói ra lời mà hàm súc biết bao duyên thắm?


Vậy mà không; lòng người xa nhà y như thể là khúc gỗ bị mối ăn, mục nát từ lúc nào không biết. Trông bề ngoài thì không có gì khác lạ, nhưng cầm một cánh hoa khẽ đập vào thử mà xem: tiếng gỗ kêu nghe mệt mỏi, u buồn, mà nếu gõ mạnh thêm chút nữa, ta sẽ thấy gỗ vỡ tan, để lộ ra những tảng mục lỗ chỗ như tổ ong, tiết ra một thứ bụi vàng hanh hao, nhạt nhẽo.


Con tim của người khách tương tư cố lý cũng đau ốm y như là gỗ mục.


Sài Gòn, Phú Lâm, Bình Lợi, Chợ Lớn, Lồ Ồ... vui quá, cứ uống rượu mạnh thế này, nghe con hát đàn vừa múa vũ vừa ca, lại cặp kè với gái hơ hớ như trăng mới mọc thế này, thì sao lại có thể rầu rĩ được? Ấy vậy mà một buổi chiều trở gió kia, ngồi cúi xuống lòng để hỏi chuyện tim mình, ta cảm như có hàng ngàn vạn con mọt nhỏ li ti vừa rung cánh o o vừa đục khoét con tim bệnh tật. Và tự nhiên ta có cảm giác rằng thân thể ta, không biết từ lúc nào, đã bị mối “xông” và đang đi đến chỗ mọt ruỗng, rã rời tan nát.


Một nỗi buồn se sắt xâm chiếm đầu óc ta. Buồn thì ngâm thơ:


Biệt ly ai kể xiết lời,


Vì hoa cách mặt cho người thương tâm.


Người đưa rượu, hỏi thăm Bành Trạch,


Kẻ say trăng tìm khách Đào, Chu;


Nào ai trang điểm màu thu,


Hoa vàng chén bạc tạc thù với ai?


Miền Dữu Lĩnh tin mai gắn bó,


Đỉnh Cô Sơn mối gió đợi chờ.


Muốn mang chén rượu, câu thơ,


Lạnh lùng trong tuyết, hững hờ dưới trăng...


Ngâm thơ lại càng buồn, mình chán nản không để đâu cho hết. Sự chán nản không tên tuổi, không lý do, ví có muốn nói ra với người ở cạnh cũng không thể được.


Tại sao lại buồn? Tại sao lại chán?


Không biết tại làm sao cả.


Người bạn mây nước, gặp gỡ ở phương trời hiểu sao được những u uẩn đó nên người xa nhà cũng chẳng buồn nói ra làm gì. Gió về đêm lạnh tê tê, nước đập vào bờ dào dạt và ở bến nước nào người ta cũng khổ. Thương nhau, muốn an ủi lẫn nhau, mà không dám nói, hay không biết nói ra thế nào. Người đẹp chỉ còn biết cúi đầu xuống thở dài, còn người đàn ông thì im lặng, đưa cặp mắt như mất thần nhìn vào bóng đêm mịt mù có tiếng dế kêu giun khóc. Cái buồn, cái chán cứ như thế mà kéo lê thê ra mãi.


Cho tới một ngày kia... đang ngồi trong một tiệm ăn hẻo lánh ở trên sông Tân Thuận, trận mưa đầu mùa trút nước xuống phố phường. Những người Bắc Việt ngồi ở những bàn ăn gần đó nhìn mưa mà thấy thẫn thờ, mà thấy bơ vơ, tưởng chừng như không thể chịu đựng nổi bầu không khí nặng nề lúc đó, bèn kiếm một câu gì để nói.


Một người bảo:


“Ở Bắc, có lẽ bây giờ cũng mưa đầu hè đấy nhỉ”.


Một người khác:


“Thế nhưng mưa ở Bắc, nó khác kia, bà ạ”.


Một người khác nữa:


“Cái gì cũng khác hết. Thôi, đừng nói nữa, tôi muốn khóc đây”.


Người bạn phương trời liếc nhìn ông bạn trai đứng cạnh: hai người im lặng chẳng nói, vì nói chẳng ra lời, nhưng cùng cảm thấy như có một thứ điện kỳ lạ truyền cảm đi khắp người.


Thì ra không cần nhiều: chỉ một câu nói rất tầm thường vào một buổi chiều mưa gió đìu hiu cũng gợi lên được những ấn tượng rầu rĩ trong một tấm lòng có mối xông.


Người ta nhớ nhà, nhớ cửa, nhớ những nét mặt thương yêu, nhớ những con đường đã đi về năm trước, nhớ người bạn chiếu chăn dắt tay nhau đi trên những con đường vắng vẻ ngào ngạt mùi hoa xoan còn thơm mát hơn cả hoa cau, hoa bưởi. Người ta nhớ heo may, giếng vàng; người ta nhớ cá mè, rau rút; người ta nhớ trăng bạc, chén vàng.


Nhớ quá, bất cứ cái gì của Hà Nội cũng nhớ, bất cứ cái gì của Bắc Việt cũng nhớ, nhớ từ cánh đồng lúa con gái mơn mởn nhớ đi, nhớ từ tiếng hát của người mẹ ru con buổi trưa hè mà nhớ lại; nhớ hoa sấu rụng đầu đường Hàng Trống, nhớ quả bàng ở Hải Hậu rụng xuống bờ sông đào, nhớ sen Linh Đường thơm ngào ngạt cả bầu trời mà nhớ lên, nhớ nhãn Hưng Yên, vải Vụ Bản, cá anh vũ Việt Trì, na Láng, bưởi Vạn Phước, cam Bố Hạ, đào Sa Pa, mà nhớ xuống.


Nhớ không biết bao nhiêu, nhớ bát canh rau sắng chùa Hương, nhớ khóm tiễn-xuân-la trồng ở bên giậu trúc, nhớ mưa bụi, vợ chồng nửa đêm thức giấc đi uống một ly rượu ấm ở cao lâu, nhớ những buổi trưa hè có ve sầu kêu rền rền, nhớ luôn cả những cô gái Thổ cưỡi ngựa thồ đi trong rừng có những cánh hoa đào rơi lả tả nơi vai áo...


Càng nhớ như vậy thì càng yêu Hà Nội biết bao nhiêu, lại càng say đắm Bắc Việt biết bao nhiêu!


Hà Nội! Bắc Việt của một ngày xa xưa ơi! Bây giờ liễu ở Hồ Gươm có còn xanh mươn mướt như hồi ta bước ra đi? Những chồi sơn trúc, thạch hương ở Nghi Tàm có còn chứa phong quang như cũ? Núi Nùng ra sao? Hồ Tây thế nào? Con đường Bách Thảo thơm nức mùi lan tây, hàng đêm, ta vẫn cùng đi với người vợ bé nhỏ, bồng con ở trên tay để đi đến thăm người bạn sống cô chích ở trong vườn “Bìm Bịp” bây giờ ra thế nào? Trên con đường Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, các đồn điền cam quýt ở hai bên bờ sông Thao vẫn còn tốt tươi như cũ và các cô con gái ngăm ngăm da nâu có còn nắm lấy tay các khách du mà ví von ca hát không cho về? Ở trước cửa chợ Đồng Xuân, có còn chăng những hàng nước chè tươi; ở chợ Hôm những hàng phở gánh bán cho khách ăn đêm; và ở trên khắp nẻo đường, những người đội thúng, cầm một chiếc đèn dầu ở tay, lặng lẽ đi trong đêm rao “giò giầy”?


Nhớ không biết chừng nào là nhớ, nhớ sao nhớ quá thế này! Thì ra cái người nhớ Hà Nội, nhớ Bắc Việt cũng như thể là chàng trai nhớ gái; bất cứ thấy ai cũng tưởng ngay đến người thương của mình và đem ra so sánh thì bao nhiêu người đẹp ở trước mắt đều kém người thương mình hết.


Ai bảo kẻ vắng mặt chịu thiệt thòi? Tôi thấy rằng càng vắng mặt bao nhiêu thì lại càng thương gấp bội; chỉ có kỷ niệm là đẹp thôi, chớ hiện tại bao giờ cũng kém phần tươi tốt.


Nhưng thương nhớ cách mấy đi nữa thì có níu quá khứ lại được đâu? Tại sao lại không chịu yên vui với hiện tại, tiếc nuối làm gì vô ích? Lịch sử không đứng yên một chỗ bao giờ.


Cái đã đi là cái đã mất. Đành vậy. Lấy hiện tại so sánh với quá khứ, e bị chủ quan mà có sự bất công.


Tôi cũng biết có sự bất công, khó tránh. Tôi yêu Hà Nội quá, tôi nhớ Bắc Việt nhiều nên bao nhiêu cái đẹp, cái hay ở trước mắt, tôi thấy mất cả ý nghĩa đi. Có lẽ đó là một sự bất công to lớn, nhưng yêu, bao giờ mà lại chẳng bất công như thế?


Tôi yêu mến luôn cả sự bất công đó và trong mười hai tháng với mười hai cuộc đổi thay của tiết trời, mười hai sự rung động uyển chuyển của năm tháng, của chim muông, của sắc đẹp, của hoa lá, của thương yêu, tình tứ, tôi cảm ơn sự bất công đã cho tôi nhìn thấy rõ lòng tôi yêu thương Hà Nội đến chừng nào, Hà Nội ạ!


Ngày xưa, con gái quan thừa tướng, ngồi ở trên lầu cao nghe tiếng hát anh lái đò mà mê nhưng vì không duyên kiếp nên hai người không lấy được nhau. Anh lái dong con đò ra khơi, đánh đắm đò mà chết rồi nhập hồn vào một cây bạch đàn. Quan thừa tướng thấy cây đẹp, sai đẵn về tiện thành bộ đồ trà tuyệt đẹp. Mỗi lần cô gái cầm chén trà lên uống thì lại thấy hình bóng anh lái đò hiện lên trong chén trà:


Không cầm lấy chén thì thôi,


Hồ cầm lấy chén lại thấy người hò khoan.


Bây giờ, người xa cách Bắc Việt lâu ngày cũng vậy: ăn một tô hủ tíu thì nhớ đến phở Bắc “chính cống” ăn vào một buổi sáng rét căm căm; trông thấy cua bể thì lại nhớ bát canh cua đồng nấu với rau rút và khoai sọ, gặp một ngày bão rớt thì lòng lại buồn rười rượi, nhớ đến thu sơ với gió may, hoa vàng. Trời tháng Ba, nhớ hội hè đình đám, con gái hát ví nghe thật là hay, đàn ông đánh vật xem mà sướng mắt; tháng Bảy, nhớ mưa Ngâu rả rích buồn như lòng người khuê phụ nhớ chồng; tháng Tám, cũng thưởng bánh Trung Thu, cũng cộ đèn, nhưng lại nhớ trăng Cổ Ngư và thèm cái cảnh tưng bừng nhộn nhịp ở Hàng Gai, Hàng Đào, Hàng Mã...; tháng Một nhớ đến gió ở Đọi Đệp lúc tản cư, mặc áo trấn thủ ngoài khoác varơ đi như muốn bay lên trời mà miệng vẫn không ngớt ngâm bài “Tây Tiến”; tháng Chạp nhớ những con đường ẩm ướt, nhớ mưa phùn rét căm căm, hai vợ chồng lên Đông Hưng Viên ăn một bát “tam xà đại hội” khói bốc lên nghi ngút.


Mỗi tháng lại có những cái đẹp não nùng riêng, những nỗi nhớ nhung riêng. Mỗi cảnh bày ra trước mắt mình lại nói lên những niềm thương yêu cũ, làm thế nào mà giữ mãi ở trong lòng cho được?


Tôi ghi lại “Thương nhớ Mười Hai” không nhằm mục đích gì cao rộng, chẳng qua chỉ là đánh dấu những ấn tượng hiện ra trong trí óc những buổi mây chiều gió sớm, “sầu biệt ly vơi sáng đầy chiều” thâu nhận được trong khi lạc bước trên những nẻo đường chật ních những người bận rộn bên cạnh những người ngoại kiều ăn mặc như phường chèo, nói “líu lô buồn nỗi khó nghe”!


Ới những người thiên lý tương tư! Nếu bất ngờ những dòng sau đây có lạc vào tay bạn, mà thấy nói được lên một mối cảm hoài của bạn vẫn chất chứa ở bên lòng, thế là kẻ viết bài này lấy làm mãn nguyện lắm rồi.


Đời mà có một người vui cái vui của mình, buồn cái buồn của mình chẳng là đủ rồi sao? Có tâm sự trong lòng, lặng nhìn nhau không nói mà cùng cảm biết, thế chẳng là đủ rồi sao?


Thôi, bây giờ mặc cho ngòi bút đưa đi, đến đâu hay đó...


 ******
THÁNG GIÊNG, MƠ VỀ TRĂNG NON RÉT NGỌT


Tự nhiên như thế: ai cũng chuộng mùa xuân. Mà tháng Giêng là tháng đầu của mùa xuân, người ta càng trìu mến, không có gì lạ hết. Ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió; ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con, ai cấm được cô gái còn son nhớ chồng thì mới hết được người mê luyến mùa xuân.


Ới ơi người em gái xõa tóc bên cửa sổ! Em yêu mùa xuân có phải vì nghe thấy rạo rực nhựa sống trong cành mai, gốc đào, chồi mận ở ngoài vườn? Chàng trai kia yêu mùa xuân, phải chăng là tại lúc đôi mùa giao tiễn nhau, chàng tưởng như nghe thấy đồi núi chuyển mình, sông hồ rung động trong cuộc đổi thay thường xuyên của cuộc đời? Mà người thiếu phụ nọ ở chân trời góc biển yêu mùa xuân có phải là vì đấy là mùa xanh lên hy vọng được trở về nơi bến đợi sông chờ để ngâm lại khúc bạc đầu với người ra đi chưa biết ngày nào trở lại?


Tôi yêu sông xanh, núi tím; tôi yêu đôi mày ai như trăng mới in ngần và tôi cũng xây mộng ước mơ, nhưng yêu nhất mùa xuân không phải là vì thế.


Mùa xuân của tôi - mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội - là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng...


Người yêu cảnh, vào những lúc trời đất mang mang như vậy, khoác một cái áo lông, ngậm một ống điếu, mở cửa đi ra ngoài tự nhiên thấy một cái thú giang hồ êm ái như nhung và không cần uống rượu mạnh cũng nghe như lòng mình say sưa một cái gì đó - có lẽ là sự sống!


Anh có thể đạp cỏ trên Hồ Gươm, đợi đến sâm sẩm tối ra ngồi ở Thủy Tạ nhìn các cô gái đẹp như tiên mặc áo nhung, áo len trăm màu ngàn sắc, in bóng hình xuống đáy nước lung linh; anh có thể vào một nhà hát thưởng vài khẩu trống, “mở quả mứt” phong bao cho các chị em, rồi uống với mỗi em một ly rượu “lấy may”; anh có thể đi vào một ngôi chùa khói nhang nghi ngút, đưa mắt nhìn xem có cô nào thực xinh thì quỳ ngay xuống bên cạnh cầu Trời khấn Phật cho cô càng ngày càng đẹp và trong năm lấy được một người chồng xứng ý như... anh vậy.


Ấy đấy, cái mùa xuân thần thánh của tôi nó làm cho người ta muốn phát điên lên như thế đấy. Ngồi yên không chịu được. Nhựa sống ở trong người căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai, như mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu được, phải trỗi ra thành những cái lá nhỏ ti ti giơ tay vẫy những cặp uyên ương đứng cạnh.


Cùng với mùa xuân trở lại, tim người ta dường như cũng trẻ hơn ra, và đập mạnh hơn trong những ngày đông tháng giá. Lúc ấy, đường sá không còn lầy lội nữa mà cái rét ngọt ngào, chớ không còn tê buốt căm căm nữa.


Y như những con vật nằm thu mình một nơi trốn rét thấy nắng ấm trở về thì lại bò ra để nhảy nhót kiếm ăn, anh cũng “sống” lại và thèm khát yêu thương thực sự. Ra ngoài trời, thấy ai cũng muốn yêu thương, về đến nhà lại cũng thấy yêu thương nữa.


Nhang trầm, đèn nến, và nhất là bầu không khí gia đình đoàn tụ êm đềm, trên kính dưới nhường, trước những bàn thờ Phật, bàn thờ thánh, bàn thờ tổ tiên làm cho lòng anh ấm lạ ấm lùng, tuy miệng chẳng nói ra nhưng trong lòng thì cảm như có không biết bao nhiêu là hoa mới nở, bướm ra ràng mở hội liên hoan.


Đẹp quá đi, mùa xuân ơi - mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến. Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng Giêng, Tết hết mà chưa hết hẳn, đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh như cuối đông, đầu giêng, nhưng trái lại lại nức một mùi hương man mác.


Thường thường, vào khoảng đó trời đã hết nồm, mưa xuân bắt đầu thay thế cho mưa phùn, không còn làm cho nền trời đùng đục như màu pha lê mờ. Sáng dậy, nằm dài nhìn ra cửa sổ thấy những vệt xanh tươi hiện ở trên trời, mình cảm thấy rạo rực một niềm vui sáng sủa. Trên giàn hoa lý, vài con ong siêng năng đã bay đi kiếm nhị hoa. Chỉ độ tám chín giờ sáng, trên nền trời trong trong có những làn sáng hồng hồng rung động như cánh con ve sầu mới lột.


Ấy là lúc thịt mỡ dưa hành đã hết, người ta bắt đầu trở về bữa cơm giản dị có cà om với thịt thăn điểm những lá tía tô thái nhỏ hay bát canh trứng cua vắt chanh ăn mát như quạt vào lòng. Cánh màn điều treo ở trước bàn thờ ông vải đã hạ xuống từ hôm “hóa vàng” và các trò vui ngày Tết cũng tạm thời kết thúc để nhường chỗ cho cuộc sống êm đềm thường nhật.


Các con lại đi học cả rồi. Dưới nhà, người làm ngồi nhắc lại chuyện Tết với nhau “tiền mở hàng được tất cả mười hai đồng” và “đánh tam cúc thua mất ba đồng mốt”. Một cảnh thanh bình thú vị diễn ra thấp thoáng ở ngoài vườn, sân gác.


Bảo là nóng ư? Không. Bảo là rét ư? Không. Thời tiết lúc đó kỳ lạ lắm: rét vẫn còn vương trên ngọn xoan đào, nhưng đất ở ngoài vườn khô ráo, sạch bóng, mịn màng như thể đất rừng Đà Lạt sau một đêm sương, và, qua những kẽ lá chòm cây, có những bông hoa nắng rung rinh trong bể nước.


Đêm xanh biêng biếc, tuy có mưa rây, nhưng nhìn lên thấy rõ từng cánh sếu bay. Về khuya, trời vẫn rét một cách tình tứ nên thơ: mặc dầu vẫn phải đắp chăn bông, nhưng ban ngày không cần phải mặc áo ấm như hồi cuối chạp.


Người vợ bắt đầu thu hết những nệm thêu trải ở sập chân quỳ và gối gấm trên ghế trắc “mua từ bên Tàu về” để đem ra phơi dưới nắng xuân, trên một cái chiếu màu khô nỏ. Mi môn, quần màn, với quần áo Tết của vợ chồng và các con sẽ được phơi như thế chừng ba nắng để rồi đem cất vào trong tủ có trải sẵn rễ “hương bài” để cho quần áo thơm ngát và khỏi “nhậy”.


Ấy đấy, thương người đàn bà Bắc như thế đấy. Sạch cứ như ly như lau, cẩn thận từng ly từng tí. Và càng thương hơn nữa là khi ta thấy người đàn bà chậm rãi vuốt ve từng cái tà áo, lồng nhỏ nhẹ từng cái khuyết vào cái khuy rồi xếp vuông vức áo nọ lên quần kia, như thể sợ động mạnh thì quần áo sẽ không còn vẹn tuyết trinh, vì nhàu nếp lụa.


Giản dị thay là cái đẹp của ngày xuân lúc đó! Ở trong nhà, cái đẹp không còn phải tạo bằng đèn nến sáng trưng, bằng mi môn quần màn rực rỡ, bằng hoa lá tưng bừng trong khói hương trầm nghi ngút, mà ở ngoài đường người ta cũng không còn bị chóa mắt hay say lòng vì những áo nhung trơn mướt, những giày kinh xòe cánh phượng bay hay những dải khăn “san” khéo biết lựa màu bay đùa trước gió như thể tơ trời vậy.


Không. Cái đẹp lúc này là cái đẹp thành thực, hồn nhiên, mộc mạc, cũng như người đàn bà, con gái đẹp không phải vì quần áo, vì son phấn, mà chính vì cái chất đẹp ở trong người tiết ra.


Từ mùa đông qua Tết cho đến hôm nay, quần áo giấu mất hết cả thân hình đều đặn, núng nính, nõn nường của người vợ bé nhỏ có đôi má đỏ hây hây mùi cốm giót. Hôm nay, chợt thấy đôi mắt trong hơn, làn da thắm hơn và đôi vai màu ngà hằn qua tấm áo lụa văn, người chồng cảm thấy như mới lại được gặp một cái gì đã cách biệt lâu lắm và tuy ngồi cách xa nhau mà tưởng như vợ mình thơm ngát mùi hoa cau.


Đẹp như thế mới là đẹp, yêu đến thế mới là yêu.


Cái đẹp của ngày Tết phủ áo nhung tím, quàng khăn lụa màu, dận lên giày nhung đen, đâu có thể so sánh được?


Ai cũng có thể bị huyễn hoặc vì vàng son, ai cũng có thể mê say nhất thời những cái lông nheo giả uốn cong lên như đào chiếu bóng, những cái vú nhân tạo bằng cao su bơm, những cái điệu bộ nhân tạo đi vắt va vắt vẻo, những mái tóc “mượn” của các mỹ viện, những mùi thơm vương giả... Nhưng rồi có một lúc người xế bóng sẽ thấy rằng cái đẹp của quê hương ta là cái đẹp của cỏ biếc, xoan đào, hương thơm của ta là hương thơm của cau xanh, lúa vàng chứ đâu phải cái đẹp của con mắt xếch vẽ xanh, của tấm mini mời mọc “tí ti thôi nhé”, của đôi môi tô theo kiểu Mỹ trông như môi người chết trôi; mà cũng đâu có phải là hương thơm của dầu thơm “Santalia”, “Kiss Me” hòa với hơi người tạo thành một mùi thú vật đang kỳ “con nước”.


Ở đây, từ tháng Một, trời nắng chói chang, làm cho đôi mắt mờ, đầu nhức, lúc nào người đàn ông cũng được “rửa mắt” bằng những cái vai đẹp hớ hênh, những cái lườn hây hây, hồng hồng, hay những cặp đùi mờ mờ nửa trắng, nửa đen, thành thử ra... hết, không còn có gì mà “cảm” nữa, ví có gió xuân thì cũng khó mà làm cho hồ ao chuyển được mình.


Chao ôi, mệt quá, người đàn ông mệt quá! Đã mệt vì kiếm tiền, lại mệt vì trác táng, mệt vì nịnh bợ, ví chăng có thấy gió xuân lay động cành hoa, long lanh cặp mắt của người vợ nao nức niềm trăng ý nhạc thì cũng đành phải uống thêm vài ly rượu ngâm hổ cốt, tắc kè và rất nhiều khởi tử... Yêu thương nhau không còn là một nghệ thuật, không còn là làm thơ có bằng, có trắc, có vần, có điệu.


Lòng đã nóng như thiêu, nhà lại thấp, bức cứ điên lên. Có tiền, lắp cái máy lạnh cho đời thêm tươi một chút, nhưng dù thế nào đi nữa thì thơ sáng tác cũng chỉ là một thứ thơ tự do, thơ văn xuôi, không có vần có điệu, ví đôi khi có vần có điệu thì cũng là cái thứ vần thứ điệu lem nhem, lỉnh kỉnh. Nào đâu những buổi hoàng hôn lành lạnh, quấn quýt tơ hồng; nào đâu những đêm trăng êm mướt như tơ, mái tóc ai xõa trên gối đầy những bông sao rụng; nào đâu những tiếng tiêu, tiếng nhạc của trời tình bát ngát hoa hương, mến thương nhịp thở ái ân thường vẫn thấy viết ở trên những báo Xuân, sách Tết?


Trên các nẻo đường nắng chói chang ở đất này, người ta chỉ thấy những người đi vội vã, chán chường mệt mỏi. Dậy từ mờ sáng mà tưởng như đã hết ngày rồi. Xới vội một bát cơm ra đĩa với khô, vừa ăn vừa lo công việc. Con cái muốn làm gì, tùy ý, bố mẹ còn bận đi lo tiền.


Một cô xách “bóp” da cừu dừng lại đường Chợ Cũ ăn mấy cái bì cuốn “nhắm” với một ly đá lạnh; một ông, nhân ngày xuân tươi đẹp, “bao” vợ và con, mua ba trái dưa hấu bổ ra ăn cả nhà, mặt mũi “tèm lem”; lại một bà, thương chồng con vất vả quanh năm, bưng về cả một liễn càri Chà mở tiệc thưởng xuân ăn với rất nhiều bún kèm thêm vài ổ bánh mì dài như cây đòn gánh.


Ăn như thế mà khát thì uống một ly chanh muối hay chén đậu đỏ bỏ rất nhiều nước đá; ai muốn mát ruột mà lành thì uống một chén “sinh sâm” hoặc một ly sữa đậu nành, còn các cô gái dậy thì, ăn thịt nhiều xót ruột, mua một vài đồng “tầm ruột” hay “cốc” chấm mắm nêm ớt, ngon đáo để, giòn rau ráu.


Tháng Giêng ở miền Nam ngà ngọc có một vẻ đẹp “ly kỳ” làm cho người ta háo hức, khiến cho cổ họng khô teo, muốn uống nước cả ngày, uống rồi lại khát, khát rồi lại uống, mồ hôi cứ vã ra như thể là mình “thoát dương”.


Nhưng mà sướng!


Sướng vì nhà nào, dù kiết xơ kiết xác đến đâu cũng có một tủ lạnh để vài ba chai nước lọc, một cái rađiô, một cái tivi hò hét những vũ điệu điên cuồng khiến cho ông via, bà cụ, chàng trai, cô gái đều rên rú cả lên muốn “vặn mình xà” nhảy vũ điệu “cha cha cha” rồi thoát y vũ như trong “sô” Trương Minh Giảng. Tươi quá, trẻ quá. Quả là một giai đoạn “đang lên”. Nhưng tại làm sao tất cả những sinh khí tươi trẻ, đang lên đó không làm khuây khỏa được lòng người sầu xứ luôn luôn mong cho đất nước tiến triển vượt bực, mà trái lại lại làm cho y rầu rĩ hơn, nhớ thương hơn những tháng Giêng Bắc Việt đã qua rồi?


Ờ, cứ vào dạo này đây, ở Bắc người ta đi lễ vui đáo để. Chiều chiều, đứng ở nhà Khai Trí Tiến Đức nhìn lên cầu Thê Húc sơn đỏ ở giữa đám cây xanh đông đảo những người đi lễ trong ngôi đền Ngọc Sơn trắng toát, anh cảm thấy có những lúc nước lộn lên trời, trời rơi xuống đất khi nhìn những bóng người hiện ra huyền ảo dưới làn nước xanh mơ.


Qua Ngõ Hồ là đền Hàng Trống có tiếng là “hương ngát của trời”; quá ra đến Hàng Hài là đền Quan Phước, ai mất người, mất của đến cầu xin thì thấy; từ đó ngược lên, ra lối Tòa Án là chùa Quán Sứ - ờ, chắc bây giờ mấy cây thông bách tán ở trước chùa đã lớn lắm rồi đấy nhỉ! Thế rồi là chùa Dâu, chùa Kim Cổ, đền Quan Thánh, chùa Trấn Quốc thờ ông thánh đồng đen, chùa Bà Đá, chùa Liên... Trời! Biết bao là chùa đẹp, biết bao nhiêu cảnh nên thơ, biết bao nhiêu người đi lễ cầu con, cầu của!


Trước đây, tháng Giêng ở Bắc là tháng người ta chỉ dành ra để trước là lễ Phật, sau là lễ tiên tổ ông bà. Người sống cảm thông với người chết trong tháng ấy, lấy tâm tư mà nói chuyện với nhau, lấy đạo lý mà khuyên bảo, dạy dỗ nhau cách nào cho vẹn đạo làm người, chớ có thấy giàu mà ham, chớ vì sang mà bỏ nghĩa, chớ vì cầu an mà làm tôi mọi cho người ngoài.


Từ xưa, Bắc Việt có bao giờ là một miền giàu có? Ai cũng phải ăn nhịn để dành; lúc nào cũng phải lo đối phó với ngoại xâm chỉ rình bóp cái cổ họng của Đông Dương trước nhất; không năm nào không lo bão tố, lụt lội, hạn hán, mất mùa... Nhưng lạ lắm, cô Ba à, tại sao tôi thấy người Bắc lúc nào cũng bình tĩnh, trầm mặc, sẵn sàng “chơi” lại những thử thách của trời trong khi vẫn sống một đời sống nội tâm phong phú, nhất là người đàn bà Bắc, sao cũng lo gánh vác giang sơn nhà chồng, cũng lo từng miếng ăn giấc ngủ cho chồng cho con, cũng hai sương một nắng mà có vẻ như không “đầu tắt mặt tối” như người đàn bà ở trong đây? Ở trong đây, người ta vội quá: người tử tế lo làm lụng vội vàng để kiếm sống đã đành, ngay các cô tứ thời lấy ngoại kiều “ngồi lên đống tiền” cũng vội; các xe hơi chạy vội, cái kèn xe bóp vội, uống rượu cũng vội, xoa mạt chược cũng vội, và nếu đôi khi có tập uống chén trà Tàu, bắt chước ngâm bài “Hoàng Hạc” cũng cứ vội luôn.


Bây giờ, ngồi mà nhớ lại, tôi không thể nghĩ được rằng tháng Giêng ở Bắc có những sự vội vàng, vất vả não nề như vậy. Người ta sống đúng như cái sống do các bậc quân tử Tàu chủ trương: sống đầy đủ, có thiếu một chút cũng không sao; làm việc cho mình, cho xã hội nhưng vẫn có thì giờ đi thuyền trên đầm thơm hát bài “Hái sen” một mình; buôn tần bán tảo ở đô thị, thôn quê nhưng vẫn dành thì giờ đi chợ kiếm một món ăn ngon cho chồng, rồi đến ngày rằm mồng một vẫn rảnh rang đi lễ cầu cho sống lâu, giàu bền, dân an, quốc thái và có hội hè gì vẫn sửa nếp áo mới, tô đôi má cho hồng để cùng với chồng vui chơi thưởng thức.


Từ ngày mồng bốn tháng Giêng, ở các làng vùng Bắc bắt đầu mùa quan