Thứ Hai, 4 tháng 10, 2021

Thế hệ đi trước đã sống tử tế

Bài viết dưới đây trích lời nhà nghiên cứu Thụy Khuê (http://thuykhue.free.fr/stt/h/HaThuyNguyen-PhongVan1.html)

"Khi người Pháp chiếm được nước ta, họ tự hào là đã chiếm được một cường quốc vào bậc nhất ở Châu Á. Tôi không tin là Doumer hay Gosselin viết xạo điều này. Vậy ta thử tìm hiểu tại sao?

Tại vì vua Gia Long làm việc suốt ngày, đêm chỉ ngủ 6 tiếng, ăn cơm với cá mắm, xắn tay đào hố, đắp thành cùng với tướng sĩ. Tại vì vua Minh Mạng mua cân đường, cân nhãn cũng ghi vào Hội điển. Tại vì vua Tự Đức tôn trọng sự phân quyền giữa hành pháp và tư pháp: khi bộ hình đã xử án, vua cũng không dám can thiệp. Tại vì những người trong hoàng gia không được phép giao du mật thiết với các quan, tránh sự đút lót, lạm quyền. Tại vì anh, em, cha, con không được làm quan cùng một chỗ, tránh sự thông đồng. Tại vì những đại thần như Nguyễn Tri Phương, khi thắng trận, được vua ban cho một bài thơ hay một chiếc áo gấm, khi thua trận bị xuống chức, bị luận tội nặng nề...

Khi ta thấy những người như Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu... một đời hy sinh cho đất nước mà không có được một ngôi nhà khang trang để ở, thì hẳn ta phải ngần ngại khi muốn làm đại gia vì cha chú ta là những Đại Thần.

Khi ta tìm trong bộ sách đồ sộ nhiều nghìn trang của các sử gia triều Nguyễn, mà không nhặt ra được một hàng tâng bốc nhà vua, thì ta phải nghĩ lại, khi viết những điều xu nịnh, trong những trang được gọi là lịch sử.

Khi quân Tầu chiếm Hoàng Sa, thì ta phải chạnh lòng nhớ đến chúa Nguyễn đã tạo đội Hoàng Sa, để giữ quần đảo Hoàng Sa, đội Bắc Hải để kiểm soát Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc, từ thế kỷ XVII.

Vì vậy, khi đã biết sử, ta không thể sống tồi tàn, bệ rạc, ăn cắp của công, vì cha ông ta, cách đây mấy trăm năm đã sống có nhân cách, sống tử tế, sống lương thiện..."

-----------

về khái niệm tử tế của bậc quân vương, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp cũng có những tư tưởng đáng chú ý trong Vàng lửa: https://khuvuonngontu.blogspot.com/2021/03/vang-lua-trich.html?m=1

"Lòng tốt lớn của nhà chính trị không chỉ là làm việc thiện với một số phận đơn lẻ mà còn là sức đẩy của ông ta với khối cộng đồng. Từng phần tử trong cộng đồng do luật tự nhiên chi phối sẽ tự tồn tại, định hướng và phát triển."

Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2021

Thơ Tản Đà

Tống biệt

Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai,
Suối tiễn, oanh đưa, những ngậm ngùi!
   Nửa năm tiên cảnh,
   Một bước trần ai,
Ước cũ duyên thừa có thế thôi.
   Đá mòn, rêu nhạt,
   Nước chảy, huê trôi,
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ đây xa cách mãi.

   Cửa động,
   Đầu non,
   Đường lối cũ,
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi...

---------------------

Vân thê

Một đôi kẻ Việt người Tần
Nửa phần ân ái, nửa phần oán thương
Vuốt rùa chàng đổi móng
Lông ngỗng thiếp đưa đường
Thề nguyền phu phụ
Lòng nhi nữ
Việc quân vương
Duyên nọ tình kia dở dở dang!
Nệm gấm vó câu
Trăm năm giọt lệ
Ngọc trai nước giếng
Nghìn thu khói nhang

-----------------------

Gió thu

Trận gió thu phong rụng lá vàng
Lá rơi hàng xóm, lá bay sang
Vàng bay mấy lá năm già nửa
Hờ hững ai xui.. thiếp phụ chàng.

Trận gió thu phong rụng lá hồng
Lá bay tường bắc, lá sang đông
Hồng bay mấy lá năm hồ hết
Thơ thẩn kìa ai.. vẫn đứng không.

--------------------------

Thề non nước

Nước non nặng một lời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non
Nhớ lời nguyện nước thề non
Nước đi chưa lại non còn đứng không
Non cao những ngóng cùng trông
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày
Xương mai một nắm hao gầy
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương
Trời tây chiếu bóng tà dương
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha
Non cao tuổi vẫn chưa già
Non thời nhớ nước, nước mà quên non!
Dẫu rằng sông cạn đá mòn
Còn non còn nước hãy còn thề xưa
Non xanh đã biết hay chưa?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn
Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi!
Nước kia dù hãy còn đi
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui
Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non nước nước khôn nguôi lời thề.

Thứ Hai, 27 tháng 9, 2021

Trường An mười hai canh giờ

 “Nhữ Năng à, ngươi có từng leo lên đỉnh tháp Đại Nhạn vào tầm tiết Cốc Vũ chưa?”

“Ở đó có một chú tiểu trông tháp, ngươi cho chú nửa xâu tiền là có thể lén leo lên đỉnh tháp, ngắm trọn mẫu đơn ở Trường An. Chú tiểu chưa bao giờ tiêu xài lung tung số tiền dành dụm được, thường lén mua cá sông cho mèo con ở bên chùa Từ Ân ăn.”     

“Trong phường Thăng Đạo có một ông lão người Hồi Hột chuyên làm bánh tất la, hạt vừng ông ấy chọn rất lớn, nên mùi bánh lúc mới ra lò thơm phức. Trước kia ta làm sai nha, sáng sớm ngày ra chạy tới canh ở cổng phường, vừa mở cổng là mua ngay mấy cái. Còn có cơm củ niễng của chùa Phổ Tế, mồng một và mười lăm mới có thể ăn được, các hòa thượng lén thêm mỡ lợn, hương vị thật sự không tồi.”

“Arroyo ở chợ Đông là một tay giỏi thuần hóa lạc đà, ước mơ cả đời của hắn là gầy dựng sản nghiệp ở phường An Ấp, lấy vợ sinh con, hoàn toàn cắm rễ tại Trường An. Trong phường Trường Hưng có một nhạc công Thái Thường họ Tiết cư trú, người Lư Lăng, mỗi khi nửa đêm trời trong không mây, ắt đến trên cầu Thiên Tân thổi sáo, chỉ để mượn ánh trăng gột rửa tiếng sáo, ta đã che đậy chuyện vi phạm lệnh cấm đi đêm tận mấy lần cho y. Còn có một vũ cơ sống ở phường Sùng Nhân, tên Lý Thập Nhị, tràn trề hoài bão muốn sánh vai với Công Tôn Đại Nương năm xưa. Nàng luyện múa đến nỗi gót chân bị cọ xát trầy rách, phải dùng lụa đỏ bó lại. À, đúng rồi, vào lễ Vu Lan lúc thả đèn, khắp sông đều là ánh nến. Nếu ngươi đi men theo kênh Long Thủ thì sẽ thấy một bà cụ mù rao bán thuyền giấy gấp sẵn dọc con kênh, nói là gom góp sắm cây trâm đồng cho cô cháu nội, nhưng ta biết, cháu gái của bà đã chết vì bệnh từ lâu.”

“Ta làm Bất Lương Soái chín năm ở thành Trường An, hằng ngày người ta tiếp xúc đều là dân chúng như thế, hằng ngày chuyện ta mắt thấy tai nghe đều là cuộc sống như thế. Đối với các quan to quyền quý, những người này nhỏ bé không đáng kể, những chuyện này càng rất đỗi bình thường, song đối với ta, đây mới là thành Trường An đầy sức sống, không bị quái vật nuốt mất. Ở bên cạnh họ, ta mới cảm thấy mình còn sống.”

“Nếu để người Đột Quyết thực hiện được âm mưu, thì kẻ mất mạng đầu tiên chính là những người như thế. Để những con người nhỏ bé này được sống cuộc sống bình thường, ta sẽ làm hết sức mình. Thứ ta muốn bảo vệ, là Trường An như thế - Ta nói vậy, ngươi có hiểu được không?”

(Trường An mười hai canh giờ | Mã Bá Dung)

Thứ Ba, 21 tháng 9, 2021

Còn chút gì để nhớ

 Còn chút gì để nhớ

Vũ Hữu Định

phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương

phố núi cao phố núi trời gần
phố xá không xa nên phố tình thân
đi dăm phút đã về chốn cũ
một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng

em Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trong

xin cảm ơn thành phố có em
xin cảm ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc bên đồi biên giới
còn một chút gì để nhớ để quên


Thứ Năm, 16 tháng 9, 2021

những bài hát về thành phố sương

không nhắc đến tên nơi đó, mà như dành tặng nơi đó, nắng, gió, mưa, sương.. bằng lời và giai điệu, trong những nốt nhạc, và khoảng trống giữa những nốt nhạc: một nơi chốn hiện lên, nơi niềm vui thì êm đềm, trong trẻo, mà nỗi buồn, nếu có, cũng chỉ bảng lảng, nếu không muốn nói là dịu dàng. 

những nhạc sĩ hoá ra đều quen thuộc, tài năng, và viết lời cực-kỳ, cực-kỳ hay, đúng là trong thơ có nhạc, trong nhạc có thơ, nghe mà sướng cái lỗ tai hihi

Phố mùa đông

nhạc sĩ Bảo Chấn, ca sĩ Lê Hiếu

Phố sương mù, phố chưa lên đèn
Núi quanh đồi nhớ mùa trăng cũ
Từng dốc phố quấn quanh núi đồi
Vẫn đi tìm bóng trăng lẻ loi.
Tháng mưa về, tiếng mưa ru hời
Phố bên đồi đứng chờ em tới
Hồ xanh thẳm trong mưa buồn rơi
Tiếng em cười nói quanh đời tôi.
Mai tôi sẽ rời xa núi đồi
Sẽ mang theo hương đêm ngày cũ
Lời tôi hát đồi núi trập trùng
Có đôi khi nhớ thiên đường xưa.
Mai tôi sẽ rời xa kỷ niệm
Sẽ mang theo ánh trăng ngày thơ
Tình em có hằn vết son buồn
Khép đôi môi câu hát vô thường.
Lối em về rẽ ngang phố chợ
Lũ thông già vẫn rì rào nhớ
Vì em đã mang theo ngày thơ
Ánh trăng về giữa đêm mộng mơ.

—————
Thị trấn
nhạc sĩ Quốc Bảo, ca sĩ Từ Hiền Trang

Thị trấn trong lòng tay là nơi em ra đời
Chiều nghiêng con dốc nghiêng tràn lên vai êm ái
Lấp lánh mặt trời giữa núi cùng đồi
Mặt người lặng lẽ vẫn thấy quen thật quen

Em đi núi đứng nhìn theo
Em đi phố khép màn chiều
Nhà vắng tiếng nói tiếng hát
Bâng khuâng chờ em

Ơi phố xá của em
Mùi cà phê thơm thật mềm
Và chiếc hôn dài tiễn đưa

Thị trấn êm đềm kia là nơi em quay về
Nhà thưa phố vắng bao mùa đi qua không khép
Vẫn có bè bạn vẫn có hò hẹn
Một thời nhỏ bé với chiếc hôn đầu tiên

Đêm qua em nằm mơ đi lạc trong núi
Cơn mưa đêm xa nhà thường là lạnh lắm
Nước mắt em nhòa 1 vùng mơ..

——————
Suối và cỏ
nhạc sĩ Dương Thụ, ca sĩ Nguyên Thảo

Có mây trôi trên đèo nắng 
Có thông reo trong rừng vắng 
Có hoa thơm trên đồi cỏ xanh 
Ngậm sương sớm long lanh. 

Chốn cao nguyên xa vời đó 
Núi ôm mây xanh mờ dốc phố 
Sống trong tôi tâm hồn mộng mơ 
Để mãi mãi ngây thơ. 

Lắng nghe tôi lời cỏ hát 
Lắng nghe tôi hát lời suối hát 
Suối trong veo róc rách rừng sâu. 

Rất non say tâm hồn tôi hát 
rất trong xanh, suối nguồn tươi mát 
Suối long lanh hát với cỏ xanh. 

Chốn cao nguyên xa vời đó 
Núi ôm mây xanh mờ dốc phố 
Suối trong veo ôm đồi cỏ non tơ 
Để tôi mãi mộng mơ.

——————
Thành phố sương
nhạc sĩ Việt Anh, ca sĩ AC&M

Tôi chết trong em bao giờ 
Mỗi sớm sương bay thành phố mơ 
Nỗi nhớ lang thang chiều mùa đông 
Mùa đông dài đến vạn ngày. 

Đong mãi cơn đau tôi dài 
Mưa gió đi ngang vùng mắt ai 
Tôi vẫn say như ngày em xa 
Cạn mưa rồi đến ngày tàn. 

Như khói bay vòng những chiều nắng phai 
Mùa thu xếp áo gió cuốn then cài 
Mưa nắng hai mùa hai mùa nhớ quên 
Em đã xa xôi những muôn trùng mây. 

Bên núi bên đồi ôi thành phố sương 
Lời ca rũ lá mưa xóa mưa nhoà 
Mưa xóa mưa nhoà trăng vàng cút côi 
Em đã mây trôi những muôn trùng xa. 

Biển khơi phía sau người không ngoái lại 
Chỉ có sương chan hòa ban mai 
Tôi đi tìm đời tôi những chuyến xe 
Đi cho trọn trời đất xót xa.

———————-
Nghe mưa
nhạc sĩ Dương Thụ, ca sĩ Nguyên Thảo

Rừng thông xanh rất xanh 
Hạt mưa cũng rất xanh 
Mùa thu khoác áo mưa xanh mát lạnh 

Rừng thông cũng biết anh 
Hạt mưa cũng biết anh 
Mùa thu cũng biết anh thật nhẹ nhàng 

Và mưa rơi cứ rơi 
Mùa thu vui vẫn vui 
Rộn ràng nghe trái tim 
Hát nên lời 

Rừng thông nói với em 
Hạt mưa nói với em 
Mùa thu nói với em 
Về nụ cười của anh 

Mưa xôn xao mái hiên 
Mưa long lanh trắng đêm 
Vây quanh em mùa thu dịu êm 

Nghe thông reo rất xa 
Nghe mưa đi rất xa 
Nghe trong em mùa thu bao la..





Thứ Tư, 24 tháng 3, 2021

Vàng lửa (trích)

 Kính viếng hương hồn nhà văn Nguyễn Huy Thiệp.

Xin phép đăng tải trích đoạn một trong những tác phẩm lấy cảm hứng từ lịch sử xuất sắc nhất của ông.

nguồn truyện: https://www.vinadia.org/truyen-ngan-nguyen-huy-thiep/vang-lua/

---

Vàng lửa (trích)

Nguyễn Huy Thiệp


Rầu lòng vậy… Cầm lòng vậy…
(Dân ca)

Ông Quách Ngọc Minh, ngụ ở Tu Lý, huyện Đà Bắc viết thư cho tôi: Tôi đã đọc truyện ngắn Kiếm sắc của ông kể về tổ phụ tôi là Đặng Phú Lân. Riêng chi tiết gặp Nguyễn Du không thích. Nhân vật “Người trẻ tuổi trong quán trong trẻo lạ lùng, tâm hồn sạch như nước ở núi ra” không ra gì. Bài hát Tài mệnh tương đố có ý gán cho Nguyễn Du là khéo mà không khéo vậy. Ông gắng thu xếp lên chơi, tôi sẽ cho ông xem vài tư liệu, biết đâu giúp ông có cách nhìn khác. Con gái tôi là Quách Thị Trình sẽ mời ông món canh cá nấu khế ông thích…

Nhận được thư tôi đã lên thăm gia đình ông Quách Ngọc Minh. Những tư liệu cổ mà ông Quách Ngọc Minh gìn giữ thật độc đáo. Về Hà Nội, tôi viết truyện ngắn này. Khi viết, tôi có tự ý thay đổi một vài chi tiết phụ và sắp xếp, chỉnh lý lại các tư liệu để hợp với việc kể chuyện.

***

Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh chiếm Thăng Long, lên ngôi vua, đặt tên hiệu là Gia Long. Bên cạnh nhà vua có vài người châu Âu giúp việc. Trong số ấy có một người Pháp tên là Phrăngxoa Pơriê do chính giám mục Pi nhô đờ Bê hen (Bá Đa Lộc) tiến cử. Nhà vua thường gọi y là Phăng.

Phăng từ nhỏ đã thích phiêu lưu. Y từng tham gia cách mạng 1789, bạn với Xanh Giuýt. Năm 1794, cách mạng thất bại, Phăng trốn ra nước ngoài. Năm 1797, Phăng theo chân một tàu buôn trôi dạt dến Hội An. Người ta không rõ cuộc gặp gỡ của y với Bá Đa Lộc, chỉ biết Bá Đa Lộc có viết thư giới thiệu Phăng với vua Gia Long. Trong tập bút ký của mình sau này, Phăng viết:

Nhà vua là một khối cô đơn khổng lồ. Ông đóng trò rất giỏi trong triều đình. Ông đi, đứng, ra, vào, ra các mệnh lệnh, chấp nhận sự tung hô của bọn quần thần. Ông là người cha nghiêm khắc của lũ con ích kỷ, đần độn. Là người chồng đáng kính của các bà vợ tầm thường… Ông biết ông  đã già, với bọn cung tần mỹ nữ trẻ đẹp ông bất lực. Ông biết rõ cái triều đình thiển cận do ông dựng lên, biết rõ quốc gia mình nghèo đói. Ông luôn lo sợ bởi quyền lực nắm trong tay, nó lớn ngoài sức chứa một con người…

Trong một chuyến đi săn ở phía Bắc kinh thành Huế, Phăng đi theo vua Gia Long. Phăng kể: 

Nhà vua cưỡi ngựa, lưng rất thẳng. Ở giữa thiên nhiên, trông ông rạng rỡ mất đi vẻ đăm chiêu cau có hàng ngày. Ông vui vẻ vào cuộc săn hào hứng. Buổi tối, nói với tôi, ông bảo: Khanh biết không, cái lũ chó chết ấy, chúng nó chuẩn bị cả rồi, chỗ nào trẫm đi qua thì chúng thả thú ra. Tôi ngạc nhiên hỏi vì sao nhà vua (vốn xuất thân là một võ tướng) lại chịu được sự nhục mạ ấy. Ông cười: Khanh chẳng hiểu gì. Vinh quang nào chẳng xây trên điếm nhục. Tôi ngồi nghe nhà vua, nhận thấy ông trải đời ghê gớm. Ông hiểu bản chất đời sống cộng sinh. Số phận ngẫu nhiên giao cho ông đứng trên đỉnh cao nhất, ông không dám phá vỡ bất cứ quan hệ nào làm hại đời sống cộng sinh đó, bởi phá vỡ nó, nghĩa là ngai vàng không còn đứng vững. Tôi có hỏi nhà vua về các nhà lư tưởng phương Đông. Tôi nhận thấy ông không quan tâm đến họ. Ông bảo: Tất cả do cay cú đời sống. Họ là quá khứ. Thời khắc đang sống, là đáng kể”. Nhà vua chăm chú ăn món gân hổ hơn là tiếp chuyện tôi…

Phăng được vua Gia Long cho phép đi lại nhiều nơi, Phăng từng gặp Nguyễn Du, bấy giờ đang giữ chức tri huyện. Phăng kể:

Trước mặt tôi là một người bé nhỏ, mặt nhàu nát vì đau khổ. Ông nổi tiếng là một nhà thơ có tài. Tôi thấy ông hoàn toàn không hiểu gì về chính trị. Trước sau, ông là một viên quan tận tụy. Ông hơn những người khác ở nhân cách nhưng nhân cách ấy có giá trị gì khi cuộc đời thực của ông xúi xó, túng kiết. Ông hoàn toàn thiếu tiện nghi. Ông không phù phiếm nhưng sự hào hoa cũng không có nốt. Đời sống tinh thần bóp nghẹt ông. Ông nói chuyện giản dị và hóm hỉnh. Trực giác tuyệt vời. Cũng như vua Gia Long, ông là một khối nguyên liệu to lớn nhưng nhẹ đồng cân hơn, hợp chất tạo thành ít hơn, độ bám của bụi bặm cũng ít hơn. Cả hai đều là những khối nguyên liệu vô giá, những vật quốc bảo. 

Phăng được Nguyễn Du dẫn đi thăm một vài nơi trong địa hạt của mình. Phăng viết: 

Ông ta (tức Nguyễn Du) có sự thông cảm sâu sắc với nhân dân. Ông yêu nhân dân mình. Ông đại diện cho nhân dân ở phần u uất nhất, trữ tình nhất nhưng cũng đáng thương nhất. Vua Gia Long không đại diện cho ai, ông chỉ chịu trách nhiệm với mình. Đấy là điều vĩ đại nhưng cũng đê tiện khủng khiếp. Nhà vua có cách nhìn thực tiễn với chính từng khắc tồn tại của bản thân mình. Nhà vua biết xót thân. Nguyễn Du thì khác, Nguyễn Du không biết xót thân. Nguyễn Du thông cảm với những đau khổ của các số phận đơn lẻ mà không hiểu nổi nỗi đau khổ lớn của dân tộc. Đặc điểm lớn nhất của xứ sở này là nhược tiểu. Đây là một cô gái đồng trinh bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp. Cô gái ấy vừa thích thú, vừa nhục nhã, vừa căm thù nó. Vua Gia Long hiểu điều ấy và đấy là nỗi cay đắng lớn nhất mà ông cùng cộng đồng phải chịu đựng. Nguyễn Du thì khác, ông không hiểu điều ấy. Nguyễn Du là đứa con của cô gái đồng trinh kia, dòng máu chứa đầy điển tích của tên đàn ông khốn nạn đã cưỡng hiếp mẹ mình. Nguyễn Du ngập trong mớ bùng nhùng của đời sống, còn vua Gia Long đứng cao hẳn ngoài đời sống ấy. Người mẹ của Nguyễn Du (tức nền chính trị đuơng thời) giấu giếm con mình sự ê chề và chịu đựng với tinh thần cao cả, kiềm chế. Phải ba trăm năm sau nguời ta mới thấy điều này vô nghĩa. Nguyễn Du sống dân dã, ông hồn nhiên chịu đựng sự nghèo tùng cùng nhân dân. Ông không đứng cao hơn họ, không hưởng thụ cao hơn họ, và như thế, ông hoàn toàn không biết làm chính trị. Tất cả đời sống vật chất của ông do những hoạt động cù lần mang lại, năng suất thấp, chỉ thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu. Lòng tốt của ông là thứ lòng tốt nhỏ, không cứu được ai. Vua Gia Long thì khác. Ông khủng khiếp ở khả năng dám bỡn cợt với Tạo hóa, dám mang cả dân tộc mình ra lường gạt phục vụ cho chính bản thân mình. Ông làm cho lịch sử sinh động hẳn lên. Đấy là lòng tốt lớn của nhà chính trị. Lòng tốt lớn của nhà chính trị không chỉ là làm việc thiện với một số phận đơn lẻ mà còn là sức đẩy của ông ta với khối cộng đồng. Từng phần tử trong cộng đồng do luật tự nhiên chi phối sẽ tự tồn tại, định hướng và phát triển. Không có một sức đẩy mạnh, cả cộng đồng sẽ mọc rêu, mủn nát. Cộng đồng Việt là một cộng đồng mặc cảm. Nó nhỏ bé xiết bao bên cạnh nền văn minh Trung Hoa, một nền văn minh vừa vĩ đại, vừa bỉ ổi lại vừa tàn nhẫn…

Phăng có kể lại cho vua Gia Long ấn tượng khi gặp Nguyễn Du. Phăng viết:

Nhà vua nghe tôi một cách lơ đãng. Tôi có cảm giác ông bị nặng tai nhưng không phải. Ông không coi Nguyễn Du ra gì, hoặc có thể ông coi Nguyễn Du là con ngựa giống tốt trong cả đàn ngựa, lợn, bò, gà mà ông chăn dắt. Ông bảo: Trẫm có biết người ấy. Cha nó là Nguyễn Nghiễm. Anh nó là Nguyễn Khản. Tôi thấy nhà vua hiểu sự bất lực của ông đối với đời sống nghèo khó và những trì trệ của dân tộc ông. Ông không tin học vấn có thể cải tạo giống nòi. Điều ấy có lý. Trước hết là vật chất. Những hoạt động kinh tế cù lần chỉ đủ sức cho một dân tộc sống khắc khoải. Vấn đề ở chỗ phải đứng lên vươn mình thành một cường quốc. Làm điều đó, phải có gan chịu đụng sự va xiết trong quan hệ với cộng đồng nhân loại. Thói hủ nho và thủ dâm chính trị sẽ không bao giờ tạo được những quan hệ trong sáng, lành mạnh. Sẽ đến lúc nền chính trị thế giới giống như món nộm suồng sã, khái niệm thanh khiết ở đấy vô nghĩa.

——————

phần còn lại mình xin phép không đăng, vì có những quan điểm hơi phiến diện về nhà Nguyễn. nghĩ lại thì, có lẽ nhà văn có lý do riêng để làm như vậy.

trích đoạn phát ngôn của Nguyễn Huy Thiệp về tác phẩm:

Câu hỏi từ độc giả: "Vàng lửa", "Kiếm sắc", "Nguyễn Thị Lộ" trong đó có nhắc đến những nhân vật lịch sử như Gia Long, Quang Trung Nguyễn Huệ, Nguyễn Trãi mà theo những điều nhà văn viết ra là những tài liệu lịch sử do nhà văn sưu tầm được khi sống trên vùng thượng du Việt Bắc. Tôi không đồng ý với cách dựng nhân vật lịch sử đó. Xin hỏi nhà văn, những truyện đó là sự thật lịch sử hay hư cấu?

NHT: Đó chỉ là những cảnh giác của tôi đối với xã hội.

——————

đó cũng là góc nhìn của mình và là lí do mình yêu thích và bị thuyết phục khi đọc các tác phẩm của ông. những tình tiết nhà văn viết ra giống như một dạng phương tiện, một cái vỏ, tinh tế.

Thứ Năm, 25 tháng 2, 2021

Xin làm người hát rong

 một bài hát rất hay của nhạc sĩ Trần Long Ẩn, được trình bày thành công nhất bởi ca sĩ Phương Thanh. nhớ hồi mình học lớp hai lớp ba bé tí đã hát cho bạn nghe trong giờ ngủ trưa 😅 bài hát này với truyện ngắn Cha con người hát rong của Võ Thị Xuân Hà có thể hợp lại thành một cặp bài trùng lay động trái tim.

Cũng đành xin làm người hát rong 

Chỉ mong đời không chê trách 

Chỉ mong chuyến xe muộn màng 
Không dừng sớm khi đang rong chơi 

Cũng đành xin làm người đến sau 
Để nghe niềm đau phía trước 
Tình như chiếc môi dịu ngọt 
Treo hờ hững trên cây hoang đường 

Thôi đành đi về lại quê xưa 
Thôi đành đi về dòng sông đó 
Từ bao năm chân phiêu lãng quên quay về 
Từ bao năm em như mãi ngủ mê 
Như mây chiều như mây chiều để cơn gió đưa 
Dù trăm năm ai quên lũy tre làng 
Dù ngàn năm ai quên tiếng mẹ ru 
Ơ ơ ơ ơ ơ tiếng ru hời ngày xưa 

Kiếp này xin làm người hát rong 
Để cho tình yêu lên tiếng 
Để cho trái tim bội bạc 
Không còn đến trong đêm hoa đăng 
Sẽ còn câu chuyện người hát rong 
Còn nghe ngày sau kể tiếp 
Tặng riêng những ai thật lòng 
Đang còn hát yêu thương con người

Thứ Năm, 14 tháng 1, 2021

Sống dễ lắm - Nguyễn Huy Thiệp

trong số nhà văn Việt Nam mình thích nhất Nguyễn Huy Thiệp và Nguyễn Ngọc Tư, sau này biết thêm Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà và Trần Thuỳ Mai cũng khá ấn tượng. truyện của Nguyễn Ngọc Tư mình hầu như chỉ đọc tuyển tập Cánh đồng bất tận. còn Nguyễn Huy Thiệp thì đa dạng hơn.

truyện Sống dễ lắm của Nguyễn Huy Thiệp mình không ấn tượng về nội dung bằng một số truyện khác như Thương nhớ đồng quê, Vàng lửa, Muối của rừng,.. nhưng với mình, có những câu này rất đắt giá:

"Sống dễ lắm.. Cứ nhìn vào mắt bọn trẻ con mà sống."

những chân lý đắt giá vẫn thường bộc trực, ngắn gọn, giản dị (tuy chưa chắc đã đơn giản) như vậy.

link gốc truyện: http://nguyenhuythiep.free.fr/bai-viet/songdelam.html 

------------

Sống dễ lắm                                                                                                                     Nguyễn Huy Thiệp

Trường Sư phạm tỉnh miền núi mở lớp tập huấn cho giáo viên vùng cao vào cuối tháng 7. Có 11 người và họ đều là những giáo sinh trẻ lần đầu đi dạy học. Bạn đọc ở đô thị chắc hiểu ít về các trường học vùng cao cách đây ba, bốn mươi năm.Tôi chỉ có thể nói với bạn rằng không ở đâu buồn tẻ hơn và ít vụ lợi hơn ở đấy, còn việc hình dung và dành tình cảm cho nó ra sao tuỳ bạn.

Cuối tháng 7, ở Tây Bắc mưa nhiều và những đợt lũ quét bất ngờ có thể gây nên những tai hoạ không thể lường trước được. Người ta cử ông giáo Chi mang những tài liệu sách vở đến giảng cho lớp tập huấn nhưng trên đường từ tỉnh lị về trường, khi qua suối, ông giáo Chi bị nước cuốn sạch đồ đạc. Mười một giáo sinh ra đón ngài thanh tra giáo dục, họ nửa khóc nửa cười khi thấy một ông già gày gò, mình trần thân trụi ướt như chuột lột đang ngồi rét run cầm cập.

Tất cả những nghi lễ và dự định cho lớp tập huấn giáo dục bỗng vứt đi hết vì lí do bất ngờ, những qui định ứng xử giữa ông giáo Chi và đám trẻ bỗng xoay ra hướng khác hẳn. Ông giáo Chi được các cô con gái thân mật gọi là " bố " mặc dầu ông nửa đùa nửa thật nói rằng mình thích được coi là " bạn thân " hoặc " anh giai " hơn. Các cô con gái trổ tài may vá và ông giáo Chi lập tức có ngay hai bộ quần áo được " cải tạo " từ đám quần áo cũ của họ. Hai cậu con trai không tỏ ý thân thiện gì với " bố ", dưới mắt họ ngài thanh tra giáo dục " xuống cấp ", trở thành một tay dấm dớ chẳng ra gì.

Tuy nhiên, đúng ngày đúng giờ, lớp tập huấn giáo dục vẫn được bắt đầu như thường lệ, y như qui định của Bộ giáo dục tận mãi Thủ đô. Ông giáo Chi vốn xuất thân là lính, ông coi nhiệm vụ trên hết và không có gì ngăn cản ông làm nhiệm vụ được giao.

Không có giấy bút gì, ông giáo Chi đĩnh đạc đứng lên bục giảng có các cô con gái vây quanh, hai cậu con trai bất đắc dĩ phải ngồi cùng, không phải vì nể ông giáo mà vì nể các 
cô con gái.

- Dạy học là nghề sống dễ lắm ! - Ông giáo Chi bắt đầu bài giảng của mình.

- Nếu lương ít, lại không có thực phẩm thì làm sao ? Ở các vùng cao lấy đâu ra chợ ? - Các cô giáo trẻ lần đầu sống xa nhà lo lắng hỏi ông.

- Phải trồng rau chứ ! - ông giáo Chi trả lời. Nuôi lấy vài con gà... Ngày xưa, tớ (ông giáo Chi xưng " tớ " chứ không xưng " bố ")... tớ nuôi cả lợn. Chiều ba mươi Tết thịt lợn, đánh tiết canh... thật không có gì vui như thế... vui như Tết !

- Tất cả là do tự nhiên điều chỉnh hết ! - ông giáo Chi nói - Mình cứ sống thôi ! Sống dễ lắm ! Cứ nhìn vào mắt bọn trẻ con mà sống...Cũng cần phải biết một ít kĩ năng, như cách thiến gà... Phải biết một số cây thuốc cầm máu, biết phân biệt các thứ nấm độc...Tớ có kinh nghiệm không nên tin cái gì đẹp đẽ quá...

Ông giáo Chi đưa bọn trẻ vào rừng, ông chỉ cho họ cách tìm các cây rau ăn được, các cây thuốc, cách tìm phương hướng khi lạc rừng nhờ vào việc xác định rễ ở các gốc cây. Buổi tối, họ ngồi tập hát, ông giáo Chi dạy họ bài hát về nghề dạy học :

          " Tôi không quên những giờ lên lớp đầu tiên

          Khi bước về ngôi trường xa

          Trang sách trắng tinh

          Với nét phấn đơn sơ vụng về

          đừng hỏi vì sao tôi yêu dấu... "

- Dạy học không có gì khó cả ! Sống dễ lắm ! - Ông giáo Chi lại nói - Mình cứ hình dung mình là đứa bé, đứa bé cần gì thì dạy thứ ấy... đừng dạy nó thứ không cần...

- Sống dễ lắm ! - Ông giáo Chi lại nói - Giáo dục... nghĩa là tha bổng... Hễ có tội là tha... trẻ con không có tội gì... Sống nghĩa là sai lầm, là mắc tội... Mình phải yêu mạng sống của chúng như yêu mạng sống của mình...

- Thế còn tình yêu ? - Những cô gái trẻ náo nức hỏi.

- Tớ không biết... - ông giáo Chi lúng túng trả lời - Nhưng có sự hi sinh... nghĩa là cay đắng...Tình yêu là mang cho nhau lời nguyện cầu tốt đẹp, những cử chỉ thân tình âu yếm, dục vọng, lòng ham sống... tóm lại là cảm giác...

- Nói dối ! - Một trong hai cậu con trai sầm mặt lại, chửi thề rồi nói khẽ qua kẽ răng. Đấy là Dân, tay thanh niên sinh ra ở thành phố - Nó hơn thế nhiều...

- Cậu thì bao giờ cũng coi cậu đúng còn mọi người là dối trá hết ! - Ông giáo Chi buồn bã nói

- Cậu không dạy học được.Cậu chỉ đi chiếm đoạt và áp chế người...Cậu giống " sếp " của tôi.

- Để xem - Anh chàng Dân trả lời - Nhưng dạy học đâu có phải là nghề tốt nhất trên đời phải không ?

- Tớ không biết ! - Ông giáo Chi thừa nhận - Có lẽ thế thật !

- Nhưng chúng ta đang nói chuyện về tình yêu cơ mà ? - Các cô giáo trẻ vẫn không bằng lòng với cách giải thích của ông giáo Chi.

- Hỏi làm gì ? Rồi trước sau ai cũng biết hết... - Cậu con trai tên là Hiếu bẽn lẽn chen vào. Khác với Dân, anh chàng Hiếu là một thanh niên nông thôn rụt rè.

- Đúng đấy ! Trước sau gì ai cũng biết hết... Rồi sẽ được ăn đòn cả thôi ! Đừng có vội ! Đừng có sốt ruột ! - Anh chàng Dân nói xong thì cười nửa miệng.

Các cô gái trẻ đòi ông giáo Chi kể về tình yêu. Ông giáo Chi từ chối mãi không được, cuối cùng ông đành nói :

- Có lẽ tớ đã yêu rất sớm... - Ông giáo Chi đỏ mặt thú nhận - Từ khi tớ còn là học trò...Mà người tớ yêu lại là cô giáo. Cô giáo đi vào lớp, tớ ngắm nghía như muốn nuốt chửng cô ta. Sau này tớ rất xấu hổ, rất ân hận...

Hai cậu con trai tỏ vẻ khinh bỉ đứng lên bỏ ra khỏi lớp. Ông giáo Chi ngồi im. Ông biết ông đã dại dột nói ra điều không nên nói. Ông là một nhà giáo dục thất bại. Các cô gái an ủi ông:

- Bố lại bịa, phải không ? Sao bố lại đi bịa như thế để cho người ta coi thường bố ? Chúng con biết bố có một tình yêu cao thượng, có phải không ?

- Ừ ừ... - Ông giáo Chi trả lời - Cao thượng... riêng tư... nhưng tớ có lỗi... tớ ích kỉ... mà lại hèn...Cô ấy là người rất kiên nhẫn mà cuối cùng cũng phải chán tớ.

- Cũng tại bọn đàn bà hay đòi hỏi cơ ! - Các cô gái than thở - Người ta vẫn nói đàn bà với tiểu nhân là một...

- Không phải thế đâu... - Ông giáo Chi cười đau đớn - Đấy là Khổng Tử. Ông ấy là tay say mê chính trị, hắn không có tình yêu, hắn yêu lễ hơn cả tình yêu... mà tình yêu là thứ vô lễ nhất. Tình yêu rốt ráo thậm chí còn là vô luân...

- Thế cũng phải dạy cho bọn trẻ con những điều như thế phải không ? - Các cô gái lại hỏi.

- Phải dạy chứ ! - Ông giáo Chi nói - Nhưng tốt nhất cứ để tự nhiên điều chỉnh là hơn... Sống dễ lắm ! Cứ nhìn vào mắt bọn trẻ con mà sống.Có điều phải trung thành với công việc... Đừng có như hai thằng trời đánh kia ! Tớ thề rằng chúng nó sẽ phản bội nghề dạy học. Cô nào yêu chúng rồi sẽ đau khổ... Chúng nó thì có dạy ai ?Bọn đàn ông, tớ biết rất rõ... Một phần cũng bởi tại giới nữ các cô kích động nữa cơ, chúng nó là bọn láo khoét, không có phúc đức gì đâu... " Phúc đức tại mẫu ", đã hiểu chưa ? Không hiểu thì rồi sẽ hiểu.

Trong lớp học có Mạ là cô gái mà ông giáo Chi yêu mến nhất. Cô gái nhà nghèo, bỏ quê lên vùng cao dạy học, lúc nào cũng nhường nhịn mọi người, lúc nào cũng tranh làm những việc nặng. Mạ ít tuổi nhất lớp nhưng cô lại có vẻ đàn chị nhất lớp. Sớm mồ côi, phải nuôi hai em nhỏ nên Mạ sớm tháo vát hơn người.

- Con ạ... Sao mày cứ đi làm tranh việc của người khác như thế ? - Ông giáo Chi hỏi cô.

- Con không biết... tại số con nó thế...

- Thôi cũng được... - Ông giáo Chi ngậm ngùi thở dài - Nhưng cũng phải thương lấy thân mình.Thương người là rồi rước hoạ vào thân...

Cứ như thế, từng ngày một, trong nửa tháng trời ông giáo Chi truyền cho đám giáo sinh trẻ những kinh nghiệm, những nguyên tắc sơ khai về giáo dục theo cách của ông. Ông đã từng sống một mình trong gian khó, phải đấu tranh với cái đói, sự hiểm nguy. Ông là giáo viên tiểu học, một viên chức thấp nhất trong ngành giáo dục, ông rất dễ bị tổn thương, rất dễ bị người khác sỉ nhục hoặc coi thường, ông nói ra những kinh nghiệm của ông để bảo vệ thân phận, bảo vệ miếng ăn cũng như nhân cách của ông. Đơn giản mà kiên quyết, không có chút gì khoa trương và khoan nhượng hết.

- Không nên tin ai ! Sống dễ lắm ! Trong gian khó mà tin người là chết ! Tất cả mọi người có khả năng phản bội, kể cả phản bội những đức tính cao quí nhất, vì thế mới có cái chết chứ... Chỉ có một sự bất tử duy nhất là huyền thoại... trong huyền thoại thì tình yêu là thứ huyền thoại vĩ đại và cay đắng nhất...

Khi lớp học tan thì mọi người đã thân thiết với nhau lắm, thậm chí anh chàng Dân còn khoe rằng đã hôn được tất cả các cô gái ở trong lớp học. Họ ghi vào sổ tay của nhau những lời chúc tụng tốt đẹp, những bài thơ... Các cô con gái chép cho nhau cả những bài hát để khi về trường dạy lũ trẻ con... Rồi khóc lóc... Rồi chia tay... Rồi tiễn nhau ra bờ suối. những cánh chim bay đi. Vùng cao xa mờ trong mây núi. Các thày cô giáo trẻ tuổi bịn rịn lên đường, vừa háo hức, vừa sợ hãi, cả vui với buồn lẫn lộn. Ông giáo Chi lội suối trở lại tỉnh lị báo cáo với trên về việc mở lớp " tập huấn " của mình.

- Không có tài liệu ! Không có sách vở ! Không có chương trình ! Mình trần thân trụi ! Thế ông làm những trò gì cho những giáo sinh ở vùng cao ấy ? - Người ta hỏi ông.

- Tôi nhen lửa... nghĩa là thổi vào lòng họ vài ngọn gió... Tôi bảo họ sống dễ lắm ! Chỉ có thế thôi !

Người ta cười phá lên :

- Ngọn gió ! Thật là đồ ngu ! Đồ dối trá ! Sống dễ lắm ! Ông đã làm hỏng toàn bộ phương pháp. Rồi ông sẽ biết thế nào là sống dễ lắm !

Ông giáo Chi bị cách chức, bị chuyển đi làm việc khác. Người ta bảo ông :

- Mắt xích giáo dục, ông già ạ, trong chuỗi mắt xích giáo dục thì ông đã làm cho mắt xích vùng cao mất toi, chẳng ra cái gì...

Ông giáo Chi ngậm ngùi xếp đồ đạc vào chiếc ba lô bạc màu ngày trước của ông. Người lính già cảm thấy lòng mình tan nát. Ông đành thôi việc về quê. Sống dễ lắm chẳng phải là một câu nói đùa cửa miệng cho vui sao ? Vùng cao xa xôi trong ông chỉ còn mơ hồ là những đám mây trắng trong dãy núi xa xôi, tiếng cười vô tư lự của đám giáo sinh trẻ tuổi, hình ảnh cô bé Mạ năm nào, cái cô giáo cấp một chịu thương chịu khó có thân hình gầy gò bé nhỏ trông chẳng khác gì một đứa trẻ chăn trâu ở trong xóm núi...

Ba mươi năm sau, ông giáo Chi khi ấy đã thành một ông lão quá tuổi " thất thập cổ lai hi " chỉ loanh quanh nơi vườn nhà. Một hôm ông có khách, khách là hai mẹ con nhà kia từ nơi xa xôi đến chơi. Chưa bao giờ ông vui như thế: cô giáo Mạ ngày nào đưa con gái về thành phố đi thi đại học ghé lại thăm thày giáo cũ.

Ông giáo Chi cười không thành tiếng :

- Thế nào ? Vẫn còn nhớ ta ư con ? Sống dễ hay khó hả con ?

Cô giáo Mạ vừa lôi trong túi xách ra những gói quà đặt lên mặt bàn vừa cười :

- Kể cũng thất điên bát đảo nhưng xét cho cùng thì sống dễ lắm ! Bố có nhớ không ? Lớp học ngày ấy có 11 người... chết mất một nửa rồi... Ông Dân bây giờ lên chức to lắm nhưng không còn làm trong ngành giáo dục. Ông Hiếu nghiện nặng, nghiện thuốc phiện, bị đuổi khỏi ngành vì đi sàm sỡ với cả học trò...

- Tớ biết ngay mà ! - Ông giáo Chi than thở - Thằng Dân tham vọng quá, nghề dạy học là nghề quá bé nhỏ với nó. Những tên lưu manh bao giờ cũng phải khua khoắng ở nơi đất rộng có người chen chúc. Thằng Hiếu thì tình cảm quá, không thắng được những bản năng...Chà ! Lũ đàn ông ! Thày bậy thày bạ ! Phúc đức gì lũ chúng mày !

Ông giáo Chi khổ sở, bận rộn với những ý nghĩ trong đầu y như trước mặt ông đang có 11 đứa con giống như ở trên lớp học vùng cao ngày nào.Ông mỉm cười với người học trò mà ông yêu mến nhất, đứa con gái trung thành của ông:

- Hãy kể chuyện đi, con gái... Sống dễ là như thế nào ?

- Cũng đói... Cũng rét... Cũng khổ đủ đường nhưng rồi cứ nhìn vào mắt bọn trẻ con mà sống...

- Thế những đứa khác thế nào ?

- Cũng thế...Bố còn nhớ con bé Thảo không ?

- Cái con bé trắng trẻo, vẫn hay nói lắp chứ gì ?

- Đúng rồi ! Nó yêu ông Dân...Tình yêu đơn phương... Nó bỏ vào rừng, nó cứ đi mãi, nó sa vào tổ ong đất rồi chết. Chỗ ấy mặt đất rất sạch, lại rất phẳng phiu, bên trên không có một ngọn cỏ nào... Cái hố toàn ong là ong sâu hơn bốn mét...

- Khổ ! đã bảo không được tin vào cái gì sạch sẽ cơ mà ! - Ông giáo Chi rên rỉ, nước mắt ròng ròng - Cái con bé xinh thế ! Thật tội nghiệp ! Thế bây giờ mộ nó ở đâu ?

- Vẫn ở trên ấy, bố ạ... Bố còn nhớ dãy núi Đầu Hổ không ? Nó nằm ở đấy 30 năm rồi...

- Thế những đứa khác thế nào ?

Cô giáo Mạ ngồi im một lát như muốn nhớ lại từng người bạn cũ ngày xưa, cô nói :

- Được cái không ai bỏ nghề dạy học... Nhưng hễ đứa nào dính đến yêu đương là chết... Khổ thế đấy ! Đứa nào an phận thủ thường thì cũng vung vinh hơn người...

- Ta đã bảo mà ! - Ông giáo Chi gật đầu - Cứ để cho tự nhiên điều chỉnh là hơn ! Cứ mơ mộng hão huyền là chết... Đừng có lãng mạn viển vông gì cả... Thế còn con ? Con gái của con năm nay thi vào đại học ? Thế bố nó đâu ? Bố nó làm gì ?

Cô giáo Mạ đưa mắt nhìn cô con gái.Cô con gái biết ý bẽn lẽn đi ra ngoài sân.

- Bố nó ngày xưa cũng là thanh tra giáo dục - Cô giáo Mạ thì thào - Anh ấy đi về trường con có mỗi một lần... cũng y như bố, buồn cười, mình trần thân trụi...

Ông giáo Chi cảm thấy nghẹt thở, nước mắt chảy ra ràn rụa. Ông cười không thành tiếng :

- Ừ... Vậy nó là thanh tra giáo dục...Thế nó nói gì ?

- Không nói gì cả...

- Thằng ông mãnh ! Thế là nó khôn...

- Được cái thật thà...Mà khoẻ lắm ! Cứ như lực điền...

- Đúng rồi...Tất cả là ở cảm giác...

- Hồi ấy mùa thu...Hoa cúc nở vàng như mê như man trong thung lũng. Mật ong thì nhiều vô kể... Lũ học trò mang đến cho con bao nhiêu là hoa với mật ong...

- Ừ ừ... ta hiểu... Thế cũng xơi chứ ?

- Vâng... Ăn tham không tưởng tượng được. Toàn mật ong rừng thuộc loại ác chiến...

- Có phải nó đặc sánh mà lại vàng như ánh nắng ở dưới mặt trời phải không ?

- Vâng... vàng như hổ phách... Mà trong suốt.

Cô giáo Mạ ngồi lặng im một lát không nói năng gì. Mãi lúc sau ông giáo Chi mới húng hắng ho. Ông nói nho nhỏ :

- Ở vùng cao ấy, con ạ, không khí rất sạch, rất tốt cho trẻ con đấy !

Cô giáo Mạ như bừng chợt tỉnh, mỉm cười :

- Vâng... được cái không khí thì sạch lắm. Hồi đẻ con bé, con tự làm lấy hết... tự cắt rốn cho nó, tự may vá lấy...

- Thế lúc ấy không có ai à ?

- Không có ai... May mà cũng không nhiễm trùng... Hôm ấy trời mưa rất to...

Ông giáo Chi đỡ lấy chén nước mà cô giáo Mạ vừa rót cho ông, ông nói :

- Con bé của con xinh lắm ? Thế nó ngoan chứ ? Có hiếu chứ ?

- Vâng... Được cái cháu nó cũng ngoan, cũng biết thương mẹ. Con nghĩ thi được đại học thì thi, không được thì thôi...

- Ừ... phải nói với nó là sống dễ lắm... đừng làm nó sợ...

- Con hiểu... - Cô giáo Mạ tần ngần nhìn ông giáo Chi, tự dưng nước mắt ứa ra - Bố già rồi... Thế bố có còn nhớ gì về những nơi ở ngày xưa của bố hay không ?

Ông giáo Chi gật đầu, ông nói rất khẽ cứ như là ông tự nói để cho mình nghe :

- Có... nhớ chứ ! Toàn núi là núi nhỉ ? Mà toàn núi xanh mây trắng...

Một lúc sau, hai mẹ con cô giáo Mạ từ biệt ông giáo Chi để trở về nhà, trở về trường học cũ của họ. Giống như ngày xưa : lại nước mắt, những lời li biệt...

Ông giáo Chi tiễn người học trò rồi mà cứ thẫn thờ tần ngần đến suốt mấy tiếng đồng hồ. Hôm sau, hôm sau nữa ông cứ lơ lửng như người mất hồn. Nhiều lúc, ông giáo Chi bỗng thấy người mình tựa như nhẹ bỗng, nhẹ đến nỗi tưởng như có thể bay lên được kia ! Chao ôi ! Ước gì ông có thể bay lên trời được ! Như những ngọn gió ! Nếu bay lên được thì ông sẽ bay đến những dãy núi xanh xa xôi tít tắp kia, nơi ấy lẩn khuất trong mây trắng và sương mù, nơi ấy không khí rất sạch và khoáng đạt, nơi mà hoa cúc dại nở vàng rực rỡ như mê như man đầy trong những thung lũng hoang vắng không có một bóng người nào.

Phải ! Điều cốt nhất là phải không có một bóng người nào ! Như thế thì sống dễ lắm ! Nhất định rồi ông sẽ về đấy mà ! Ông sẽ về đấy... Ông nghĩ như thế ? Cho ngày 
mai...Mai...

                                                                                                                  Hà Nội, tháng 12.1999