Thứ Hai, 21 tháng 12, 2009

"..Nhưng Scarlett, có bao giờ cô nghĩ rằng ngay cả mối tình bất diệt nhất cũng có thể lụi tàn?

[...]

Tình yêu của tôi lụi tàn rồi.

[...]

Đã có bao giờ cô nghĩ rằng tôi yêu cô đến hết mức một người đàn ông có thể yêu một người đàn bà? Yêu từ bao năm trước khi tôi cưới được cô. Trong thời gian chiến tranh, tôi muốn đi thật xa để cố quên cô, song không được, và bao giờ tôi cũng phải quay lại. Sau chiến tranh, tôi dấn thân vào vòng tù tội chỉ để trở lại gặp cô. Tôi yêu cô đến mức tưởng có thể giết chết Frank Kennedy nếu anh ta không chết.
Tôi yêu cô nhưng không thể để cô biết. Cô thật tàn nhẫn đối với những người yêu cô, Scarlett. Cô nắm lấy tình yêu của họ vung lên đầu họ như một cây roi.

[...]

Tôi biết lúc chúng ta lấy nhau, cô không yêu tôi. [...] Xin cô cứ cười, nếu cô thích, nhưng tôi đã muốn săn sóc, chiều chuộng cô, cho cô tất cả những gì cô cần. Cô đã phải vật lộn gay go biết mấy, Scarlett. Không ai biết rõ hơn tôi những gì cô đã phải trải qua và tôi đã muốn cô thôi không phải đấu tranh nữa, để tôi đấu tranh thay cho cô. Tôi đã muốn cô được vui chơi như một đứa trẻ - vì cô là một đứa trẻ, một đứa trẻ vừa can đảm, vừa khiếp sợ, vừa bướng bỉnh. Tôi nghĩ, ngay cả bây giờ, cô vẫn còn là một đứa trẻ. Chỉ có một đứa trẻ mới có thể ương ngạnh và vô tình đến thế.

[...]

Giá cô để tôi thoải mái, tôi có thể yêu cô một cách dịu dàng và âu yếm như chưa một người đàn ông nào yêu một người đàn bà đến thế. Nhưng tôi không thể để cô biết vì cô sẽ nghĩ là tôi yếu đuối và tìm cách dùng tình yêu của tôi để trị tôi..

[...]

Thế rồi cái đêm tôi bế cô lên gác.. tôi đã tưởng.. tôi đã hi vọng.. tôi đã tràn đầy hi vọng đến nỗi tôi sợ phải giáp mặt cô sáng hôm sau. Phải, tôi sợ mình đã lầm và thật ra cô chẳng yêu tôi. Tôi sợ cô cười vào mũi tôi, sợ đến nỗi phải bỏ đi và uống cho thật say. Và khi trở về, tôi run từ trong ruột và nếu cô nhân nhượng đi một bước trước, tỏ một dấu hiệu gì đó, thì hẳn tôi đã quỳ xuống hôn chân cô rồi.

[...]

Ồ, thế đấy. Hình như chúng mình đã hiểu lầm nhau, phải không? Nhưng bây giờ cái đó chẳng quan trọng nữa. Tôi kể với cô chỉ cốt để cô khỏi thắc mắc về chuyện đó. Khi cô ốm - đó là tại tôi gây ra - tôi cứ đứng ngoài cửa buồng, hi vọng cô gọi tôi, nhưng cô không gọi. Lúc đó, tôi liền hiểu ra rằng mình ngu biết bao, rằng thế là hết.

[...]

Nhưng còn có Bonnie và tôi thấy suy cho cùng chưa phải đã hết tất cả. Tôi thích tưởng tượng Bonnie là cô lại biến thành một bé gái trước khi chiến tranh và nghèo đói ném cô vào bao thử thách. Nó mới giống cô làm sao, bướng bỉnh, dũng cảm, tươi vui và đầy phấn hứng. Và tôi có thể cưng nó, nuông chiều nó.. đúng như tôi muốn cưng cô vậy. Nhưng nó không như cô.. nó yêu tôi. Thật là một ân phước khi tôi có thể đem mối tình yêu mà cô không thèm dồn vào cho nó. Khi nó đi, nó đã mang theo tất cả.

[...]

Scarlett yêu dấu, cô thật trẻ con. Cô tưởng cứ nói "Tôi lấy làm tiếc" là có thể sửa chứa tất cả những lầm lỗi, những xúc phạm trong quá khứ, có thể tẩy hết mọi nọc độc khỏi những vết thương cũ.. Cầm lấy mùi soa của tôi này, Scarlett. Chưa bao giờ, trong một cơn khủng hoảng của đời cô, tôi thấy cô cần một chiếc mùi soa.

[...]

Scarlett, tôi không phải loại người kiên nhẫn nhặt những mảnh vỡ, đem gắn lại với nhau rồi lại tự nhủ rằng một vật chắp vá cũng coi như mới. Cái gì đã vỡ là đã vỡ.. Và tôi thà nhớ lại khi nó tốt đẹp nhất, còn hơn là chắp vá lấy được để rồi suốt đời cứ phải thấy những chỗ vỡ. Có lẽ nếu tôi còn trẻ hơn.. Nhưng tôi đã quá tuổi để tin vào những chuyện lãng mạn như làm lại cuộc đời. [...] Tôi ước sao có thể quan tâm đến những việc cô làm hoặc những nơi cô đến, nhưng không thể được.

[...]

Cô bé thân mến ạ, tôi mặc xác."

[Rhett Butler, tiểu thuyết Cuốn theo chiều gió của Margaret Mitchell, bản dịch của Dương Tường]

_____________

thật đau lòng

Thứ Năm, 17 tháng 12, 2009

Rhett Butler, in "Gone with the wind" written by Margaret Mitchell:

"But, Scarlett, did it ever occur to you that even the most deathless love could wear out?

Mine wore out."

__________________________

aaaaaaaaaaaa I WANT A HAPPY ENDING, NOT THATTTTTTTT :((((((((((((((((((((

it reminds me of what is written in an icon:

"No matter how much we like a person, if we are uncertain of our position, there will be a point when the only certain is to give up."
René Descartes (1596-1650), French philosopher:

"Those who so become accustomed to walk in darkness weaken their eyesight so much that afterwards they cannot bear the light of day."

Thứ Năm, 10 tháng 12, 2009

Chiếc vòng kỳ diệu

Chiếc vòng kỳ diệu

Khuyết danh

Một ngày nọ, vua Salomon bỗng muốn làm bẽ mặt Benaiah, một cận thần thân tín của mình. Vua bèn nói với ông :”Benaiah này, ta muốn ông mang về cho ta một chiếc vòng để đeo trong ngày lễ và ta cho ông sáu tháng để tìm chiếc vòng đó”.

Benaiah trả lời :” Nếu có một thứ gì đó tồn tại trên đời này thưa Đức Vua, tôi sẽ tìm thấy nó và mang về cho Ngài, nhưng chắc là chiếc vòng ấy phải có gì đặc biệt?”

Nhà vua đáp :”Nó có những sức mạnh kỳ diệu. Nếu kẻ nào đang vui nhìn vào nó sẽ thấy buồn, và nếu ai đang buồn nhìn vào nó sẽ thấy vui”. Vua Salomon biết rằng sẽ không đời nào có một chiếc vòng như thế tồn tại trên thế gian này, nhưng ông muốn cho người cận thần của mình nếm một chút bẽ bàng.

Mùa xuân trôi qua, mùa hạ đến nhưng Benaiah vẫn chưa có một ý tưởng nào để tìm ra một chiếc vòng như thế.

Vào đêm trước ngày lễ, ông quyết định lang thang đến một trong những nơi nghèo nhất của Jerusalem. Ông đi ngang qua một người bán hàng rong đang bày những món hàng trên một tấm bạt tồi tàn. Benaiah dừng chân lại hỏi :”Có bao giờ ông nghe nói về một chiếc vòng kỳ diệu làm cho người hạnh phúc đeo nó quên đi niềm vui sướng và người đau khổ đeo nó quên đi nỗi buồn không?”. Người bán hàng lấy từ tấm bạt lên một chiếc vòng giản dị có khắc một dòng chữ. Khi Benaiah đọc dòng chữ trên chiếc vòng đó khuôn mặt ông rạng ngời một nụ cười.

Đêm đó tòan thành phố hân hoan, tưng bừng đón mùa lễ hội. “Nào, ông bạn của ta – Vua Salomon hỏi – ông đã tìm thấy điều ta yêu cầu chưa?”. Tất cả cận thần có mặt đều cười lớn và cả chính vua Salomon cũng cừơi.

Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Benaiah đưa chiếc vòng ra và nói :”Nó đây, thưa Đức Vua”. Khi vua Salomon đọc dòng chữ, nụ cười biến mất trên khuôn mặt vua. Trên chiếc vòng đó có khắc dòng chữ: ”ĐIỀU ĐÓ RỒI CŨNG SẼ QUA ĐI”.

Vào chính giây phút ấy, vua Salomon nhận ra rằng tất thảy những sự khôn ngoan, vương giả và quyền uy của ông đều là phù du, bởi vì một ngày nào đó ông cũng chỉ là cát bụi….

Nguồn gốc của 7 ngày trong tuần.

Nguồn gốc của 7 ngày trong tuần.

nguồn: http://my.opera.com/dieugido253/blog/show.dml/3579521

Tại sao tuần lễ lại có 7 ngày ? Vì sao số 7 lại được coi là con số "màu nhiệm"? Bởi vì nó được xuất phát từ quan niệm của người châu Âu và liên quan đến hiểu biết của các nhà khoa học thời ấy về vũ trụ.

Theo họ, Trái Đất là trung tâm của vũ trụ, có 7 hành tinh quay xung quanh nó là Mặt Trời, Mặt Trăng và các vì sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ và ngày ấy con người cũng mới biết đến 7 nguyên tố kim loại là vàng, bạc, đồng, sắt, chì, kẽm và thủy ngân. Họ coi 7 nguyên tố đó tương ứng với 7 hành tinh trong hệ mặt Trời, nên đã lấy mỗi ngày tượng trưng cho một hành tinh mà theo thế giới quan của họ mỗi hành tinh là một vị thần và được đặc trưng bởi nguyên tố kim loại với những tính chất nhất định.

+ Ngày đầu tiên trong tuần lễ được coi là ngày của vị thần thân thiết nhất, quan trọng nhất là Mặt Trời và ứng với thứ kim loại quý nhất là VÀNG. Đó là ngày Chủ Nhật. Tiếng Anh gọi là Sunday, tiếng Đức là Sonntag có nghĩa là ngày Mặt Trời.

+ Ngày thứ Hai được giành cho vị thần canh giấc ngủ đêm đêm của con người, đó là Mặt Trăng và tương ứng với nó là nguyên tố kim loại BẠC, thứ kim loại quý thứ hai sau vàng. Tiếng Anh là Monday, tiếng Đức là Montag có nghĩa là ngày Mặt Trăng.

+ Ngày thứ Ba được ứng với sao Hỏa và nguyên tố tương ứng là SẮT. Bởi sao Hỏa được coi là thần của chiến tranh mà vũ khí, áo giáp đều làm bằng sắt. Ngày nay người Pháp gọi là Mardy, còn người Tây Ban Nha gọi là Martes. Tiếng Anh là Tuesday, đây được coi là ngày của những chiến binh, của nam giới.

+ Ngày thứ Tư tiếng Anh là Wednesday, tiếng Pháp gọi là Mercredi, tiếng Tây Ban Nha là Mercoles có nghĩa là ngày của sao Thủy. Sao Thủy được coi là vị thần của thương mại. Theo hình dung của người xưa, đây là vị thần thường xuyên phải đi nhiều nên nguyên tố tương ứng là THỦY NGÂN. Thứ kim loại nặng, dễ di động.

+ Ngày thứ Năm người Pháp gọi là Jeudi, người Tây Ban Nha gọi là Juebes là ngày dành cho chúa tể của các vị thần linh, ứng với đó là sao Mộc và kim loại đi kèm là KẼM. Bởi kẽm có tính chất không gỉ nên nó đặc trưng cho sức mạnh của khôn cùng sao Mộc - vị thần sấm chớp. Có lẽ vì vậy mà ngày thứ Năm người Đức gọi là Donnerstag, nghĩa là ngày sấm chớp. Còn trong tiếng Anh nó là Thursday.

+ Ngày thứ Sáu người Pháp gọi là Vendredi, người Tây Ban Nha gọi là Biernes có nghĩa là ngày của sao Kim. Hành tinh này được coi là tượng trưng cho nữ thần của tình yêu. Ứng với sao Kim là nguyên tố kim loại ĐỒNG, một kim loại mềm dẻo, phản xạ những tia sáng lấp lánh. Các dân tộc ở Bắc Âu gọi nữ thần tình yêu là Fray, vì thế người Đức gọi thứ Sáu là Freitag và người Anh gọi là Friday. Đây được coi là ngày của nữ giới.

+ Còn ngày cuối cùng trong tuần được coi là của sao Thổ, vị thần mà theo quan niệm của người xưa là gây ra các nỗi bất hạnh, đau khổ về mặt tinh thần cho con người. Nên ứng với nó là nguyên tố CHÌ, một kim loại độc hại. Trong các ngôn ngữ ở châu Âu hiện nay chỉ còn tiếng Anh giữ nguyên được gốc tên gọi của sao Thổ (Saturn) để chỉ ngày thứ Bảy - Saturday.

Trên đây là khảo cứu nhỏ về nguồn gốc của các ngày trong tuần mà nguyên gốc tên gọi của nó còn giữ được trong ngôn ngữ của một số quốc gia châu Âu, giúp chúng ta hiểu thêm về cách đặt tên ngày của người châu Âu cổ.

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2009

Chiều mưa biên giới

Chiều mưa biên giới

- Nguyễn Văn Đông -

Chiều mưa biên giới anh đi về đâu?
Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu
Kìa rừng chiều âm u rét mướt
Chờ người về vui trong giá buốt
Người về bơ vơ

Tình anh theo đám mây trôi chiều hoang
Trăng còn khuyết mấy hoa không tàn

Cờ về chiều tung bay phất phới
Gợi lòng này thương thương nhớ nhớ
Bầu trời xanh lơ

Đêm đêm chiếc bóng bên trời
Vầng trăng xẻ đôi
Vẫn in hình bóng một người
Xa xôi cánh chim tung trời
Một vùng mây nước
Cho lòng ai thương nhớ ai

Về đâu anh hỡi mưa rơi chiều nay
Lưng trời nhớ sắc mây pha hồng
Đường rừng chiều cô đơn chiếc bóng
Người tìm về trong hơi áo ấm
Gợi niềm xa xăm

Người đi khu chiến thương người hậu phương
Thương màu áo gởi ra sa trường
Lòng trần còn tơ vương khanh tướng
Thì đường trần mưa bay gió cuốn
Còn nhiều anh ơi

Lòng trần còn tơ vương khanh tướng
Thì đường trần mưa bay gió cuốn
Còn nhiều anh ơi
"Mộng rơi giữa thềm hoa
Mộng sao vẫn cay đắng xót xa
Rượu cay có mình ta

Uống cho cạn nỗi đau muôn đời
Mộng rơi giữa đời ta
Mộng như những cánh én thướt tha
Chiều nay có mình ta với cơn sầu"


[Khúc Lan]

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2009

Photobucket
Ảnh: Kền kền chờ đợi - Kevin Carter (1994)


0. Hand: Được trao giải Pulitzer 1994, bức ảnh ghi lại khoảnh khắc một em bé ở Sudan sắp chết đói đang cố lết về phía trại phân phát lương thực của Liên Hợp Quốc cách đó khoảng một km. Cách đó không xa, một con kền kền đang chờ em bé chết để ăn thịt. Bức ảnh khiến cả thế giới bàng hoàng.

Không ai biết điều gì xảy ra với em bé sau đó. Cả nhiếp ảnh gia cũng không biết bởi anh rời đi ngay sau khi chụp ảnh. Nhiều người lên án sự lạnh lùng sau ống kính của tác giả. Ba tháng sau khi chụp bức ảnh này, nhà nhiếp ảnh Kevin Carter đã tự tử vì trầm cảm.



1. Giàng: Mình nhớ tranh cãi về hành động của Kevin đã là một đề tài lớn trên nhiều phương tiện, nhiều diễn đàn. Bởi thay vì chạy đến cứu đứa bé, Kevin dừng lại và chờ một khoảnh khắc phù hợp nhất để nháy pô ảnh, mà ông biết sẽ tác động đến hàng triệu người khác trên thế giới.

Việc anh không cứu đứa bé trước khi chụp ảnh, để không phá bỏ không gian (bao gồm con chim, sự yếu đuối của bé, xác xơ của đồng cỏ...vv) là có thể hiểu được. Điều khó hiểu thật sự là tại sao Kevin lại rời đi ngay sau khi chụp bức ảnh, và dằn vặt gì khiến ông tự tử ba tháng sau đó?


2. Gaup: Đây là một thứ truyền khẩu dai dẳng nhưng không chính xác. Có thể dễ dàng kiểm tra là chú này chụp ảnh tháng 3/93 và tự sát tháng 7/94 - ba tháng sau khi đoạt giải Pulitzer cho bức ảnh này thì đúng.

Thêm nữa, nhiều người được bảo và thích nghĩ rằng chú này tự sát vì day dứt về cách chụp bức ảnh này. Link wikipedia

http://en.wikipedia.org/wiki/Kevin_Carter

cho thấy cái suicide note viết:

"I am depressed ... without phone ... money for rent ... money for child support ... money for debts ... money!!! ... I am haunted by the vivid memories of killings and corpses and anger and pain ... of starving or wounded children, of trigger-happy madmen, often police, of killer executioners...I have gone to join Ken if I am that lucky."[4]

"Tớ trầm cảm...không có điện thoại...không có tiền trả tiền nhà....tiền trả tiền nuôi con....tiền trả nợ...tiền nói chung!!!....Tớ bị ám ảnh bởi những hồi tưởng rõ ràng về giết chóc và xác chết và sự tức giận và đau đớn....về trẻ em bị thương bị đói....bởi những kẻ điên dễ bị kích động, thường là cảnh sát, về những tên đao phủ sát nhân...tôi đã đi gặp Ken nếu tôi may mắn thế."

Như thế bức ảnh trên nếu phải thì chỉ là một phần nguyên nhân chú ấy tự sát.

Xem thêm link wiki để thấy đứa bé không nhất thiết là bị ở trong tình trạng gần chết như bức ảnh và truyền thông muốn chúng ta nghĩ.


3. thansammic21: Theo thông tin các anh ở thông tấn xã zue nan, thằng bé sống tiếp nhưng chỉ được khoảng một tuần!

Lúc đó nó thực sự đói gần chết, thằng pv không đi tác nghiệp một mình, ai đó đi cùng đã cứu cháu bé, nhưng rồi nó chết, không phải chú pv tự kể lại hoàn cảnh chụp được bức ảnh mà chính lời đồn đại bắt chú phải tự thú.

Em các bác nghĩ sau khi chụp được shot đó, chú pv bắt đầu nghĩ ngay đến Pulitzer, lâng lâng như say rượu đé.o hơi đâu mà thương hại. Cảm giác hối lỗi chắc chỉ có sau khi đạt giải và bị dư luận lên tiếng, cái này gần với sự cay đắng hơn.


4. Gaup: Mic đọc post vừa rồi của anh có vẻ không hiểu, mic cũng không đọc cái link wiki nữa - anh đoán có lẽ tiếng Anh chuối. Vậy để anh tóm tắt lại.

(1) Đứa bé đó theo lời chú Kevin và New York Times trích lại thì là đang lết về phía trạm phát đồ ăn cách đó khoảng 1km và đang dừng lại nghỉ. Con kền kền kia theo lời các chú đó thì đang chờ đứa bé chết để ăn thịt. Sau khi ảnh được đăng, do có nhiều người hỏi han là số phận đứa bé kia ra sao thì New York Times trả lời là đứa bé đó có đủ sức để đi tiếp về trạm kia và không có thông tin nào khác về số phận của nó.

Mấy bạn thông tấn xã nói là sống thêm được một tuần là ba hoa bốc phét. Không ai biết gì về việc này cả.

(2) Bức ảnh không nhất thiết là bức tranh toàn cảnh. Có thể nó đã là một sự trích dẫn không đầy đủ khỏi văn cảnh/hoàn cảnh. Nói cách khác, khung hình cho người xem cảm giác chỉ có con kền kền, đứa bé, và nhiếp ảnh gia. Trên thực tế có thể có nhiều đứa bé khác, nhiều người khác nữa, kể cả cha mẹ đứa bé đứng xung quanh - và là một khung cảnh tương đối bình thường dẫn tới việc nhiếp ảnh gia tiếp cứu đứa trẻ là không cần thiết. Bức ảnh đã được bóc tách ra khỏi hoàn cảnh của nó theo kiểu tôi cảm thấy nhục khi cầm hộ chiếu Việt Nam và vì thế nhiều sự trách móc đổ dồn trách nhiệm vào người chụp ảnh. Đây là cái giá nhiếp ảnh gia phải trả để duy trì tính độc đáo của bức ảnh.

Trong link có nói tới một nhiếp ảnh gia khác đi cùng với Carter là người đã kể lại là bọn trẻ con bị bố mẹ bỏ xuống đất một vài phút trong khi cha mẹ lấy thực phẩm từ máy bay của UN mà Carter và người kia đã đi cùng tới. Nếu việc này đúng, đứa trẻ không bò đi đâu, và kền kền cũng không chờ để ăn thịt nó, hoàn cảnh thật của đứa bé bi đát nhưng là bình thường trong hoàn cảnh chung ở chỗ đó. Chỉ có cái tính kịch của khung hình tạo dựng kia ám ảnh chúng ta.


5. aosta: Nói chung vẫn chỉ là suy đoán. Tuy nhiên, tớ không nghĩ một người làm nghệ thuật, chụp được một tấm ảnh như thế lại là người vô tâm ngay sau đó.

"Nói nữa để làm gì, đã không còn lại gì" @nhạc chẻ


6. thansammic21: @Gấu: em chưa đọc cái link anh đưa, quan điểm của anh Gấu là đúng nhưng theo em nên đặt tư cách con người lên trên tư cách nhà báo. Trong mọi trường hợp, hành động thản nhiên nhìn một thằng trẻ con lê lết để cho vừa khung ảnh của chú phóng viên là bất nhân.


7. Gaup: Chưa chắc đâu Mic. Nếu như xung quanh có không phải 1 mà là 200 trẻ đều lê lết như thế, và không chỉ 1 mà là 1000 con chim như thế, và Mic là phóng viên ảnh được liên hiệp quốc mời đi thực tế ở Sudan chỉ có 30' để chụp ảnh ở điểm phát lương thực đấy thì liệu Mic sẽ chụp ảnh hay là đi ra bế (đứa nào trong số) 200 trẻ đấy và rồi đi đâu, làm gì?

Bức ảnh này có giá trị ở cái thông điệp sự bất hạnh của con người, sự cô độc của con người đối diện với nguy cơ, rủi ro, đau khổ. Chỉ cần lùi lại hai bước, zoom out một chút mà thấy thêm 10 người cùng cảnh ngộ như thế là sức thuyết phục của thông điệp sẽ giảm đi nhiều. Khi nhìn ảnh chỉ có một đứa trẻ, người xem thấy mình như phải có trách nhiệm nâng đỡ đứa bé, cái thiện tâm của mình bị kích thích cần phải nói, phải đưa tay ra. Nếu như thấy lố nhố mấy chục đứa trẻ và cha mẹ chúng nó đang giằng giật thực phẩm thì tự nhiên cái cảm giác trách nhiệm cá nhân đấy biến mất, vấn đề bỗng trở nên ở ngoài tầm với của người xem, nguyên nhân của nó bỗng trở nên phức tạp hơn nhiều khả năng giải quyết của mình và vì thế lúc đó mình không còn muốn dính dáng gắn bó gì cho nó nặng đầu.


8. em tên bông: Post này của Gấu là một enlightenment cho em bông, làm bông thấy chơi tnxm mang lại lợi lộc cho mình.


Những tranh luận trên được copy từ diễn đàn tnxm.net

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2009

Liệu thế giới này có còn đáng được cứu rỗi nữa hay không?

Movie Review: The Dark knight

Liệu thế giới này có còn đáng được cứu rỗi nữa hay không?
Thổ Phỉ's blog

Photobucket


“Người ta bảo, phương Tây được xây nên trên các truyền thuyết. Và truyền thuyết là cách để chúng ta có thể hiểu được những gì vĩ đại hơn bản thân mình. Những sức mạnh định hình số phận, những sự kiện thách thức các cách giải thích thông thường, những con người mà số phận của họ vươn tới trời xanh hoặc rơi xuống mặt đất. Các truyền thuyết đã được sinh ra như thế đó…” (The Ghost Rider)

Hai thế kỷ trước đây, khi “phương Đông là phương Đông và phương Tây là phương Tây”, Keepling không phải là nhà văn duy nhất đi tìm cảm hứng sáng tạo của mình từ “phương Đông bí hiểm”. Trong suốt hơn một thế kỷ, hành trình “tìm về với phương Đông” là cái cách phương Tây đã làm để nhìn thế giới của mình bằng một con mắt khác. Những cố gắng của họ thường được tiếp nhận bởi sự im lặng kiêu kỳ, hoặc tệ hơn, sự nhạo báng ít dấu diếm của phương Đông : làm sao phương Tây có thể hiểu được sự tinh tế và chiều sâu trong triết học, văn hóa và lịch sử của chúng ta?

Một trong những sai lầm lớn nhất của phương Đông là ở chỗ, suốt gần hai thế kỷ qua, chúng ta lầm tưởng rằng, sáng tạo ra các truyền thuyết là đặc quyền của tiền nhân, rằng các anh hùng ca, các câu chuyện cổ tích, các truyền thuyết đã không còn chỗ đứng trong xã hội hiện đại nữa. Suốt thời gian ấy, phương Tây đã chứng tỏ rằng, ngay cả trong những năm tháng đen tối nhất, khi cả thế giới chớm đặt một chân vào một cuộc đại chiến đẫm máu nhất trong lịch sử, hay dưới cột khói bốc lên từ đám cháy của tòa Tháp đôi, với một thế kỷ mới bắt đầu bằng chủ nghĩa khủng bố, với sự ngự trị của bất an, đói kém và tội ác diệt chủng toàn cầu, họ vẫn không ngừng sáng tạo ra các truyền thuyết để tìm hiểu những gì “vĩ đại hơn bản thân mình”, hoặc có lẽ, để nuôi dưỡng niềm tin vào sự tồn tại của những điều “vĩ đại hơn bản thân mình”. Thế giới càng thu nhỏ, công nghệ càng phát triển thì con người càng cô đơn và càng có nhu cầu kiếm tìm những gì lớn lao hơn cuộc sống thường nhật của họ. Điều đó giải thích cho cơn phấn khích của công chúng khi khám phá lại Chúa tể những chiếc nhẫn, thành công vang dội của Harry Porter, sức hấp dẫn toàn cầu trong mỗi một phần của Ma trận, hay gần đây nhất, sự đồng thuận hiếm hoi giữa các khán giả cuồng nhiệt và những nhà phê bình khó tính trong việc đánh giá thành công của Hiệp sĩ của Bóng đêm, một trong những bộ phim hay nhất và giầu tính triết lý nhất của Hollywood trong mười năm trở lại đây.

Sự “tiến hóa” thần kỳ nào đã khiến cho một khuôn mặt anh hùng nhàm chán như Người Dơi lại trở thành biểu tượng của một tác phẩm điện ảnh xuất sắc-”đen tối và dài như bóng đêm”, như cái cách mà tờ New York Times ca ngợi? Vì sao bộ phim, thay vì một sản phẩm thương mại và giải trí thuần túy, lại trở thành một truyền thuyết hiện đại hấp dẫn, đầy tính ẩn dụ, trăn trở về những vấn đề lớn lao của thời đại chúng ta? Christopher Nolan đã làm cách nào để đem người hùng bằng nhựa, vốn đang mòn mỏi trong góc khuất của các tiệm đồ chơi hay cửa hiệu quần áo trẻ em cùng với Siêu Nhân, Người Nhện hay nửa tá anh hùng khác trong Justice League, trở lại màn ảnh lớn như một nhân vật bi kịch của thời hiện đại?

Có lẽ bởi những tác phẩm nghệ thuật lớn như Hiệp sĩ của Bóng đêm luôn luôn đặt ra những câu hỏi, những cách nhìn có thể thay đổi (dẫu chỉ trong gần hai tiếng đồng hồ) toàn bộ những tín điều mà chúng ta đã chấp nhận trong thế giới tẻ nhạt thường nhật này. Nếu như trong Ma Trận, anh em nhà Wachowski thách thức cách nhìn của chúng ta đối với hiện thực, với “sự tồn tại” trừu tượng của thực thể, thì trong Hiệp sỹ của Bóng Đêm, người hùng của trẻ em đã thực sự trưởng thành, trở thành một Hamlet của thế kỷ XXI khi anh phải đối mặt với một câu hỏi nhức nhối.

Liệu thế giới này có còn đáng được cứu rỗi nữa hay không?

Không! Nhân vật Joker (Heath Ledger đóng), một trong những bộ mặt phức tạp nhất của cái Ác khẳng định! Thế giới này, mà tượng trưng cho nó là thành phố Gotham, mọt rỗng bởi thói đạo đức giả, tham lam và bạc bẽo. Những con người vô cảm, tìm cách che dấu cuộc sống bất lực vô mục đích bằng cách “lập ra các kế hoạch” cho cuộc sống của họ, và lần theo các kế hoạch của cuộc đời như gã mù bám theo cây gậy chỉ đường. Nhưng chỉ cần một cú huých, chỉ cần một mắt xích trong kế hoạch của họ bị đổ vỡ, khi không có chỗ dựa, khi “mọi sự trở nên xấu đi”, con người sẽ trở về với cái ác nguyên thủy của nó. Joker say mê sự hỗn loạn vô chính phủ, thích những cú “huých nhẹ” phá vỡ những mắt xích trong các kế hoạch của con người, đẩy con người đến chỗ tận cùng của cuộc sống, giữa ranh giới của Thiện và Ác để chứng minh bản chất “hướng ác” của loài người. Joker luôn sử dụng dao, để vào giây phút cuối, cảm nhận tất cả sự sợ hãi, hèn nhát, nhu nhược, bất lực của nạn nhân, cảm thấy mình đọc được nhiều hơn bất cứ ai về bản chất của con người trong giờ phút ấy. Khinh bỉ cái Ác truyền thống, cái Ác “có kế hoạch”, có “tổ chức”, Joker muốn chứng minh cho xã hội thấy hắn có thể làm được gì chỉ với những thứ rẻ tiền như “vài viên đạn, một chút thuốc nổ và một ít xăng”-hắn không chỉ phá hủy vài ngôi nhà, vài chiếc xe hay một bệnh viện mà còn phá hủy tận gốc nền tảng đạo đức của xã hội này, tạo nên một sự hỗn loạn về giá trị sống. Ledger có một vai diễn xuất sắc cho một kẻ “không có tên, không có lý lịch, không có hồ sơ lưu trữ, không dấu vân tay, không có bất cứ một cái gì cả “-ngoài khuôn mặt của Gwynplaine, với hai mép bị rạch tạo cho hắn một khuôn mặt cười quái dị và những cú liếm môi nôn nóng. Với người này, khuôn mặt của hắn là câu chuyện của một cậu bé có số phận bi thảm, bị chính người bố nghiện ngập rạch mặt ra sau khi giết mẹ, bởi vì “sao con cứ nghiêm trọng quá đi”. Với một người khác, khuôn mặt hắn kể lại câu chuyện một người chồng nghèo, sẵn sàng rạch mặt mình để người vợ bị bệnh đỡ mặc cảm, nhưng vì quá ghê sợ nên chính người vợ lại bỏ ra đi. Cũng giống như Người Đàn Ông Có Bộ Mặt Cười của Hugo, bộ mặt cười của Joker là cái cười gằn bi thảm được khắc lên trên một khuôn-mặt-khác của xã hội, muôn hình vạn trạng, với hàng triệu câu chuyện đằng sau nó, tất cả đều hét lên “xã hội này không đáng được cứu rỗi!” Và liệu chúng ta có đủ cơ sở để phản bác hắn, liệu chúng ta còn có thể gọi hắn là kẻ Ác khi bộ mặt của hắn vẫn cười nhạo chúng ta với triết lý tàn nhẫn, nhưng e rằng không phải là không có lý đó?

Không! Harvey Dent (Aaron Eckhart), viên ủy viên công tố trẻ, “Hiệp sĩ trắng”, người mà Người Dơi hi vọng sẽ thế chỗ anh ta trở thành người bảo trợ cho Gotham cũng khẳng định. Niềm tin vào sức mạnh của cái Thiện, vào sự chính trực của mình, tin tưởng ở cái cách anh ta tự quyết định vận mạng của mình chứ không ai khác (hãy xem anh ta tung đồng xu có cùng một mặt)…cứ lần lượt bị Joker bẻ gẫy, khi hắn lần lượt chứng minh cho anh ta, sự tráo trở, bội phản, ích kỷ của Gotham và xã hội của nó không phải do hắn tạo ra- nó chính là bản chất của xã hội này. Cuộc chiến mà Joker kêu gọi giới tội phạm của Gotham chống lại Người Dơi và Harvey Dent không nhằm tiêu diệt người hùng của thành phố, nó là sự bắt đầu tất yếu của cái Ác trước sự kết thúc của cái Thiện, khi cái Thiện nắm quyền lực trong tay và bị quyền lực tha hóa. Joker đã bắt Harvey Dent phải đứng trước sự lựa chọn khốc liệt-cho dù có hào nhoáng theo kiểu Cesar- “hoặc chết như một anh hùng, hoặc sống đủ lâu để nhìn thấy anh trở thành một tên tội phạm”. Harvey Dent đã chọn vế sau, không phải vì anh ta muốn sống, mà vì anh ta nhận ra xã hội Gotham không xứng đáng có một anh hùng chết cho nó.
Và chính vì vậy nên Người Dơi phải chết.
Christopher Nolan đã cố gắng duy trì niềm tin nhỏ nhoi của chúng ta vào tính hướng thiện của con người. Thử nghiệm chứng minh bản chất ích kỷ của con người của Joker thất bại, khi người dân trên hai chiếc tàu chở đầy chất nổ chấp nhận cái chết của mình chứ không thay bằng mạng sống của người khác, nhưng liệu thắng lợi nhỏ nhoi đó có đủ sức xóa đi tiếng cười giễu cợt đinh tai nhức óc của Joker bên tai Người Dơi “Ai nói là ta định giết nhà ngươi? Ta giết nhà ngươi làm gì? Nhìn lại mình xem! Chúng ta đâu có khác nhau? Chúng ta đều là những con quái vật!”

Bóng đêm lại một lần nữa che phủ Gotham. Ngọn đèn tín hiệu phóng chùm sáng mang tiêu ký của Người Dơi từng ngạo nghễ vươn lên bầu trời Gotham bị đập nát, từng đàn chó săn gầm gừ dẫn đường cho cảnh sát truy đuổi người hùng đã luống tuổi, không tình yêu, không niềm tin, không tương lai của chúng ta trong những hẻm phố đen ngòm, và Người Dơi, người bảo trợ bí mật của Gotham bị chính những người mà anh bảo trợ nguyền rủa, truy đuổi. Đó là số phận do chính Người Dơi lựa chọn, khi anh xoay nửa bộ mặt trong sáng của Harvey Dent ra ánh sáng, khi anh nói “thế giới này xứng đáng với cái gì đó hơn là sự thật”.

Nhưng liệu nó có thực sự xứng đáng?
"Về sau, sau nhiều năm đã qua, tôi mới hiểu được điều bí ẩn của hai cây phong. [...]

Nhưng việc khám phá ra chân lý giản đơn ấy cũng vẫn không làm tôi vỡ mộng xưa, không làm tôi bỏ mất cách cảm thụ của tuổi thơ mà tôi còn giữ đến nay. Và cho đến tận ngày nay tôi vẫn thấy hai cây phong trên đồi có một vẻ sinh động khác thường. Tuổi trẻ của tôi đã để lại nơi ấy, bên cạnh chúng như một mảnh vỡ của chiếc gương thần xanh.."

[Người thầy đầu tiên - Tsinghiz Aitơmatốp]
"Một buổi chiều, sau ngày làm, chúng tôi ngồi bên đống lửa, chúng tôi đã ăn xong và thung dung nghỉ ngơi.

- Đanikê, trước khi đi ngủ, anh kể cho nghe chuyện gì về chiến tranh đi - Tôi nài.

Thoạt đầu Đaniyar lặng thinh, hình như còn bực mình là đằng khác. Anh nhìn ngọn lửa hồi lâu, rồi như để trả lời cho những suy tư riêng của mình, anh nói bằng giọng khàn khàn:

- Không, các cậu không nên biết gì về chiến tranh thì hơn.

Rồi anh quay đi, vơ lấy một ôm cỏ khô ném vào đống lửa, và bắt đầu thổi cho cháy bùng lên, mắt không nhìn ai trong bọn chúng tôi.

Đaniyar không nói gì thêm. Nhưng, chỉ một câu ngắn ngủi ấy từ miệng anh nói ra cũng đủ khiến chúng tôi hiểu được rằng không thể nói về chiến tranh một cách đơn giản như vậy, không thể từ đó mà tạo nên một truyện cổ tích đưa ta vào giấc ngủ. Chiến tranh đọng lại thành máu trong trái tim sâu thẳm của con người, và kể chuyện về nó không phải là dễ dàng. Tôi xấu hổ với chính mình, và không bao giờ tôi hỏi chuyện Đaniyar về chiến tranh nữa."

[Giamilia - Tsinghiz Aitơmatốp]

Hãy nói yêu thôi, đừng nói yêu mãi mãi

Hãy nói yêu thôi, đừng nói yêu mãi mãi.
Tác giả: Khuyết danh.

Sáng nay, trong khi sắp xếp những chồng thư cũ, tôi tình cờ đọc lại một bài thơ ngắn của Jacques Prévert mà cô bạn cũ nắn nót chép tặng trên một tờ thư có in hoa rất đẹp…

Bài thơ vỏn vẹn năm câu được cô đặt vắt qua hai trang giấy một cách đầy ngụ ý.

Trang thứ nhất:

Tôi sung sướng và tự do
Như ánh sáng
Bởi hôm qua anh ấy nói với tôi rằng anh ấy yêu tôi


Hai câu cuối bị đẩy qua trang sau:

Anh ấy đã không nói thêm
rằng anh ấy sẽ yêu tôi mãi mãi…


Khi đọc bài thơ này cách nay hai mươi năm, tôi đã cảm nhận nó bằng một tâm hồn tươi trẻ. Bây giờ, cuộc sống giúp tôi nhìn có lẽ đã khác đi về bài thơ trên trang giấy đã ố vàng này.

Cô gái trong thơ nhạy cảm và tinh tế, vì đã không đợi đến khi người mình yêu quay lưng mới xót xa nhận ra rằng tự do “như ánh sáng” chỉ là một thứ tự do mong manh. Hạnh phúc “như ánh sáng” là một hạnh phúc có thể vụt tắt bất cứ lúc nào.

Nhưng giả sử chàng trai có nói thêm rằng “sẽ yêu mãi mãi”, hoặc có thề hứa trăm năm đi nữa… ai dám khẳng định trái tim chàng sẽ không đổi thay? Nếu từng đọc Ruồi Trâu, hẳn bạn còn nhớ đoạn văn này: “Ràng buộc con người không phải là lời thề. Chỉ cần mình tự cảm thấy thiết tha với một điều nào đó, thế là đủ rồi.”

Ngoài sự “thiết tha tự nguyện” đó ra, chẳng có gì ràng buộc được trái tim con người, nên đừng tin chắc rằng ai đó sẽ mãi không đổi thay. Cũng không thể buộc ai đó không được đổi thay.

Trên đời không có thứ vũ khí hay quyền lực tuyệt đối nào có thể níu giữ trái tim một khi nó đã quyết tâm rẽ lối. Cho dù đó là nhan sắc, một tình yêu sâu đậm, những kỷ niệm sâu sắc đắm say. Càng không phải là sự yếu đuối, sự khéo léo sắc sảo hay vẻ thông minh dịu dàng, sự giàu có hay thương hại…Những thứ đó có thể níu kéo một thân xác, một trí óc…nhưng không thể níu kéo một trái tim.

Trái tim vốn là một tạo vật mong manh và thiếu kiên định. Vì vậy, hãy tin vào điều thiện, lòng tốt, vào nhân cách và năng lực…nhưng đừng tin vào sự bất biến của nhận thức và tình cảm nơi con người. Hãy tin là mình được yêu trong khoảnh khắc này, nhưng đừng chắc rằng mình sẽ được yêu mãi mãi. Nếu chịu chừa chỗ cho sự đổi thay, ta sẽ tránh được không ít tổn thương sâu sắc.

Tôi không cho niềm tin là món quà vô giá mà ta dành cho người khác. Bởi đôi khi, sự tin tưởng hoá ra là một việc rất… đơn phương và vô trách nhiệm. Nó có nghĩa bắt người kia vào rọ, không tính đến khả năng thay đổi của trái tim con người.

Tin tưởng là trút gánh nặng sang vai người khác, bất kể người ta có chịu nhận nó hay không. Việc nhận định hay quyết định vấn đề không còn dựa vào sự thận trọng, tỉnh táo, sáng suốt hay sự nhạy cảm, bao dung của ta mà hoàn toàn giao phó cho người khác.

Và nếu khi họ thay đổi, ta thường nhân danh sự tin tưởng tuyệt đối mà mình đã tự nguyện gửi gắm để cho phép mình cái quyền được ghép tội họ.

Nhưng, bất cứ ai cũng có thể có lúc đổi thay.

Sự thay đổi của người khác, nhất là ở người ta vô cùng yêu quý, chắc chắn khiến ta tổn thương. Nhưng hãy nhớ rằng người quân tử khi đã hết tình cảm thì thường tỏ ra lạnh nhạt. Như ẩn sĩ Urabe Kenkô trong tập Đồ Nhiên Thảo đã viết: “Khi người sáng chiều hết sức thân quen, không có gì ngăn cách bỗng một hôm lại làm mặt lạ và có cử chỉ khác thường, chắc hẳn sẽ có kẻ bảo: “Sao xưa thế kia mà bây giờ lại thế khác?” Theo ta, thái độ lạnh lùng đó chứng tỏ người ấy hết sức đàng hoàng và thành thật.”

Cuối cùng đó mới chính là cốt lõi của tình yêu, tình bạn và những mối quan hệ thân sơ khác. Sự thành thật, chứ không phải là lời hứa vĩnh viễn thủy chung. Bạn có thể yêu hay ghét. Thích hay không còn thích nữa. Chỉ cần thành thật, bạn sẽ luôn luôn thanh thản.

Tôi đọc lại lần nữa bài thơ ngắn ngủi trên tờ thư cũ, và cảm nhận một cách rõ rệt vẻ trách móc đắng cay dịu dàng rất đỗi con gái. Nhưng ít nhất cô gái trong bài thơ kia cũng biết rằng người yêu cô đã rất thành thật, khi không hứa một điều mà anh không tin chắc. Cô cũng biết trái tim con người là một tạo vật hoàn toàn tự do, và một khoảnh khắc đắm say hạnh phúc không hề là lời hứa hẹn vĩnh cửu.

Cô bạn yêu quý của tôi chắc cũng nhận ra điều đó, nên đã viết thêm một dòng chữ xinh xinh vào cuối trang thư, một dòng ngắn mà tôi không bao giờ quên được:

“Hãy nói yêu thôi, đừng nói yêu mãi mãi.”
"Chúa đã bỏ loài người
Phật đã bỏ loài người
Này em, xin cứ phụ người
Này em, xin cứ phụ tôi."

[Trịnh Công Sơn]

Thứ Năm, 3 tháng 12, 2009

"Lúc đó tôi không có mắt, thích là thích, chẳng có cách nào khác."

"Hồi đó cảm thấy thuốc lá đúng là một liều thuốc rất tốt, ít nhất nó khiến người ta còn có việc để mà làm trên thế giới này."

"Sau này em sẽ hiểu, ở nơi nào đó trên thế giới này có cô ấy xuất hiện, những người khác chỉ là tạm bợ.

Anh không muốn tạm bợ."

(lời Hà Dĩ Thâm)

[Bên nhau trọn đời - Cố Mạn]

"...Nhưng tôi đã nhiều lần tự nói với mình, làm sao cô ấy có thể không trở lại?

Dĩ Thâm vẫn đang chờ kia mà!

Chỉ có điều chúng tôi không ngờ lại lâu như vậy, chờ đợi không đáng sợ, cái đáng sợ nhất là không biết phải chờ đến bao giờ.

Một năm, hai năm... năm thứ năm... năm thứ sáu...

Năm thứ bảy."

(lời Hà Dĩ Văn)

[Bên nhau trọn đời - Cố Mạn]
"Hôm đó về đến nhà, ngồi trên ghế sôpha, nhìn trời sáng dần qua cửa sổ.

Do bận công việc, căn nhà thuê đã lâu không sửa, chậu hoa trên ban công mua về để đấy, không biết đã ra hoa tự lúc nào, vài cánh đã tàn phất phơ trước gió, chỉ còn một cánh màu đỏ trên đài hoa nhỏ xíu màu tím nhạt.

Bỗng nhiên tôi cảm thấy mình giống như loài hoa không biết tên này.

Lặng lẽ ra hoa, lặng lẽ tàn, ngày tháng trôi qua không ai thăm hỏi."

(lời Hà Dĩ Văn)

[Bên nhau trọn đời - Cố Mạn]

1. tôi không thích Hà Dĩ Văn. nhưng những lời này của cô ấy đã thật sự làm tôi cảm động.

2. thích nhất Cố Mạn ở những chữ "loài hoa không biết tên"

không phải là không tên, mà là không biết tên

có những thứ,
dù ta có biết hay không,

chúng vẫn cứ tồn tại..